Archive for Tháng Tám, 2012


Những đường thẳng Nazca

Tiếp tục bàn về sự hiện diện của những kì vật, có một sự kiện về những họa tiết, những hình xoắn ốc và các dạng hình học khổng lồ cần được nhắc đến đã xuất hiện trên đồng bằng Nazca ở Peru. Thật sự thì có rất ít địa điểm trên Trái Đất khó hiểu hơn hay được bao phủ với nhiều điều kỳ bí hơn nơi này. Nền văn minh Nazca có niên đại từ năm 200 trước Công Nguyên đến năm 600 sau Công Nguyên, không ai biết sự thật bí ẩn to lớn về nguồn gốc cũng như ý nghĩa của những đường thẳng Nazca này.

Những đường thẳng hiện lên khắc họa một vùng cao nguyên bao la, có chiều dài khoảng 59500 mét, rộng 24150 mét, được gọi là Pampa Colorado, nó nằm trên vùng núi cao Nazca ở Peru. Có lẽ lần đầu tiên những đường thẳng thu hút được sự chú ý rộng rãi trên thế giới qua cuốn sách mang tên “Mã Xa của các vị Thần” (“The Chariots of the Gods.”) của tác giả Eric Von Daniken. Những đường khắc thật sự có một kích thước khổng lồ với hàng ngàn đường chéo, ngoằn nghèo, xoắn ốc và những đường thẳng song song hầu như phủ lấp toàn bộ vùng đồi núi. Những đường thẳng đã được tạo nên từ việc loại bỏ đi bề mặt đá cứng trên đồng bằng và phơi ra lớp đất xốp mềm bên dưới. Độ rộng bình quân của các đường thẳng là từ khoảng 15.25 cm đến hơn 1.8 m chạy theo đủ mọi hướng xuyên suốt đồng bằng. Vài đường thẳng dài hơn 9655 m chạy dài liên tục qua các vùng đồng bằng, đồi núi và thung lũng và vẫn luôn giữ được độ thẳng đúng chuẩn. Các họa tiết mô tả hình chim, thú, con người, những biểu tượng thiên văn học và lạ thường thú vị làm sao, có một đoạn thậm chí còn nhìn giống như 1 đường băng dài khổng lồ (hình 9).

Hình 9

Những họa đồ có kích cỡ khổng lồ này tại Nazca một người không thể nhìn thấy được khi đứng trên mặt đất. Chỉ có những ai quan sát từ trên không thì mới có thể nhìn thấy được hình dạng những gì được vẽ của nó.

Các đường thẳng Nazca đã được phát hiện một cách tình cờ khi một máy bay bay bay qua khu vực này vào giữa thế kỷ 20 và phi công đã rất bất ngờ đột nhiên nhận thấy chúng từ trên không. Với góc nhìn từ trên cao, có thể có thấy được rõ ràng hình dạng của một con khỉ khổng lồ (hình 10), một con chim ruồi (hình 11) và một hình thực sự trông giống như một nhà du hành vũ trụ (hình 12). Và đó chỉ là một số ít. Có nhiều, nhiều hơn, bao gồm hầu như toàn bộ cao nguyên (hình 13).

Hình 10

Hình 11

Hình 12

Kích thước to lớn của các chữ tượng hình thực sự không thể được xem nhẹ và nó được tin tưởng rộng rãi rằng sơ đồ chi tiết cho khu Nazca chỉ có thể được thực hiện từ trên không. Làm thế nào khác nữa mà 1 họa sĩ biết được bản thiết kế là đúng? Một điểm kỳ lạ nữa là tại sao họ lại bỏ ra rất nhiều công sức, thời gian ra để thực hiện một công trình vĩ đại, bao phủ cả một cao nguyên núi với các chữ tượng hình khổng lồ mà không ai (người không thể bay)sẽ có khả năng nhìn thấy được, chỉ đơn giản là không có một lý do rõ ràng nào cho công trình này.

Hình 13

Advertisements

Kim Tự Tháp Ai Cập 

Trong bất kì một danh sách nào về những điều lạ lùng, một trong những điều đầu tiên người ta nghĩ tới là, tất nhiên, Kim Tự Tháp Lớn (The Great Pyramid) ở Ai Cập. Kim Tự Tháp đã từng là nguồn gốc của vô số lý thuyết, ý tưởng, lời đồn, và suy đoán. Nhiều năng lực đáng ngạc nhiên đã được gán cho nó.

Mặc dù nhiều lý thuyết đã được đưa ra về chuyện Kim Tự Tháp đã được xây dựng như thế nào, nhưng nếu soi xét lại cho rõ thì, không một lý thuyết nào được trình bày từ trước đến giờ đã có thể chứng minh được sự đầy đủ. Nó đã được lý thuyết thành khá nhiều thứ, từ một ngôi mộ, cho tới một căn phòng điểm đạo, cho tới một cột mốc vũ trụ, cho tới một cái máy bơm nước khổng lồ, và bên cạnh rất nhiều thứ khác. Có vô số sách đã được viết về nó và vô số lý thuyết được tranh luận. Thật sự thì toàn bộ khu phức hợp Thung Lũng Giza khá đặc biệt, và cũng có rất nhiều điều bí ẩn xung quanh toàn bộ khu vực; mục đích của nó và cách xây dựng nó.

Khu phức hợp này thật sự quá đặc biệt đến nỗi toàn bộ một chương sẽ được dành riêng cho nó vào phần sau cuốn sách. (Xem chương 4- Thung lũng các vị vua) 

Nút Tai của Người Aztec? 

Nền văn hóa Aztec, cũng như nhiều nền văn hóa quá khứ của vùng Trung Mỹ, có một niềm say mê dành cho một loại đá gọi là đá vỏ chai (obsidian). Nó được dùng chủ yếu là những hiến vật trong các nghi thức cúng tế, thường được tìm thấy ở nhiều địa điểm tại Nam Mỹ. Trong trường hợp bạn không quen thuộc với loại đá này, đá vỏ chai rất dễ vỡ, nó là một dạng thủy tinh màu đen từ núi lửa và khá khó khăn để trạm khắc hay xử lý.

Tuy nhiên, có một thời gian trong quá khứ, một nghệ nhân khuyết danh đã được xem là đã làm ra những món đồ nhỏ nhắn tuyệt vời, khá kì lạ, này (Hình 6), nó được cho là những cái nút tai. Đúng vậy, nút tai, và chúng ta được yêu cầu phải tin là nó được tạo ra từ những công cụ Aztec thông thường thời đó, như là khoan tre, búa đục đá, và cát nhuyễn dùng để mài mòn.

Hình 6

Điều này chỉ có thể được nhận ra như là một kết luận cực kì không thể thấu triệt, bởi vì những món đồ này đã được trau chuốt cho tới một độ dày chưa tới một milimét liên tục toàn diện, nó tròn trịa tuyệt đối, hoàn toàn cân đối và một cặp thì có kích thước giống nhau như đúc một cách chính xác.

Bây giờ chúng ta hãy suy nghĩ về điều này một chút và nhớ rằng chúng ta đang nói về những cái nút tai ở đây. Những thứ này rất rất nhỏ, và tôi chắc rằng bạn sẽ hình dung được nếu bạn nghĩ tới kích thước của một cái lỗ tai thật sự, hơn nữa, nó được tạo ra với một độ chính xác không thể tin được từ đá vỏ chai.

Hãy chú ý đến độ chính xác của cái đường vành nhỏ nhô ra từ hai đầu của nó. Rất khó để tưởng tượng rằng một ai đó làm ra nó từ đá vỏ chai dễ vỡ bằng các công cụ thủ công thô sơ.

Tuy nhiên điều hấp dẫn và thú vị nhất về những hiện vật này là dưới sự soi xét tỉ mỉ những dấu hiệu không thể nhầm lẫn được của máy móc thật sự hiển hiện khá rõ ràng. Điều này làm cho cái ý tưởng rằng chúng được làm bằng tay càng khó thuyết phục hơn.

Chiếc Bình Kim Loại Bí Ẩn

Tháng Sáu 1851, tạp chí Khoa Học Mỹ ‘Scientific American’ đã cho in lại bài báo cáo đã từng xuất hiện trong tờ nhật báo Boston Transcript về một chiếc bình kim loại được khám phá bởi các thợ mỏ (hình 7). Chiếc bình được tìm ra trong hai phần, cùng với đống đá vụn khi nó được lấy ra từ trong lớp đá trầm tích cứng lúc được cho nổ tại Dorchester, Mass. Điều kì lạ là, nó đã bị chôn vùi 4.57 mét dưới mặt đất và bị nằm sâu bên trong đá. Điều này cho thấy rằng nó đã từng nằm đó trong một thời gian rất dài.

Hình 7

Chiếc bình hình chuông cao 11.43 cm và rộng 16.51 cm. Được cấu tạo bởi một hợp kim kẽm và bạc, với hai mặt được trang trí thiết kế hoa văn và sắp xếp theo bó hoa, tất cả được dát bạc tinh khiết. Lớp đá mà chiếc bình đã bị chôn vùi trong được ước lượng khoảng 100.000 năm tuổi.

Làm sao mà chiếc bình đã bị chôn vùi thật chặt 4.57 mét dưới lớp đá trầm tích?

Dây Chuyền Bị Mất

 

Người ta đã biết rằng than đá được hình thành trong nhiều ngàn năm từ những thân cây đã bị cháy và đổ xuống và đã trải qua áp lực khủng khiếp tính bằng tấn từ lớp đất đá bên trên trong nhiều năm. Một cục than đá vì thế mà, đơn giản bởi bản chất về sự hình thành của nó, là một thứ rất cổ xưa. Nói theo nghĩa đen, không có “than đá mới”. Vậy mà một buổi sáng tháng sáu 1891, một người phụ nữ có tên S. W. Culp, tại thành phố Morrisonville, Tiểu Bang Illinois, đang đập than đá ra thành từng miếng nhỏ để cho vào bếp lò và bỗng dưng để ý thấy từ một cục than mà bà đã đập ra có một sợi dây chuyền dính trong nó. Sợi dây chuyền dài 25.4 cm và sau này đã được phân tích làm từ vàng 8 cara. Đáng tiếc là không có một bức ảnh nào về sợi dây chuyền, và nơi chốn hiện tại của nó thì cũng bặt vô âm tín, tuy nhiên, sự kiện này đã được ghi nhận khá chi tiết.

Theo sổ sách của Thời báo Morrisonville ngày 11 tháng 6, năm 1891, các nhà điều tra kết luận rằng sợi dây, được mô tả là đã được chế tạo bằng “một sự khéo léo duyên dáng cổ xưa”, không chỉ đơn giản là vô tình bị rớt trong than đá bởi một người công nhân,vì một cuộc khám xét kĩ lưỡng đã hiển thị rõ ràng một số mảnh than vỡ vẫn còn bám trên các mối kết của sợi dây, trong khi một phần của mảnh than vỡ vẫn còn mang dấu ấn riêng biệt của nơi sợi dây đã từng nằm trong đó. Người phóng viên mô tả nó theo cách này:

“Bà Culp nghĩ rằng sợi dây chuyền đã vô tình bị rơi trong đống than, nhưng khi bà nhặt nó lên, ý tưởng rằng nó đã bị đánh rơi trong thời gian gần đây là không thể được, vì khi cục than vỡ ra và gần như là tách làm đôi, và vị trí vòng tròn của sợi dây có hai đầu nằm gần với nhau, và khi cục than tách ra, phần giữa của sợi dây bị rơi ra trong khi hai đầu vẫn còn dính chặt vào cục than… “

Làm thế nào mà một sợi dây chuyền vàng được rèn tinh xảo đã có thể dính chặt trong một cục than, một vật mà sự tồn tại của nó đòi hỏi hàng ngàn năm tuổi?

Rõ ràng là sợi dây chuyền đã không bị mất quá gần đây.

Có một thứ thú vị nhất có thể được tìm thấy ở khu phức hợp Pumapunku gần Tiahuanaco. Tại địa điểm cổ xưa này, sừng sững đứng trong sân, có thể nhìn thấy được một tảng đá cao phẳng với một đặc điểm nổi trội. Toàn bộ quần thể phức hợp thật sự khá là đặc biệt, bao gồm một lối vào khổng lồ được hoàn tất với những thanh đỡ (lintels) đã được cắt ra từ một khối đá duy nhất, và nhiều hình dạng khác thường có vẻ như đã được làm ra từ máy móc bao gồm luôn cái này.

Điều đáng chú ý về phiến đá cổ xưa này là nó có một vết cắt hoàn hảo hay đường rãnh rộng khoảng 1 cm chạy xuống toàn bộ chiều dài, trong khi bên trong đường rãnh này có một bộ những cái lỗ cách đều nhau mà xem ra là đã được khoan vào đó.

Nơi này chỉ cách có vài trăm mét từ địa điểm nổi tiếng Tiahuanaco, nhưng phiến đá và nhiều đặc điểm bí ẩn tại địa điểm rất khó để có thể giải thích và nêu ra quá nhiều câu hỏi khó trả lời, nên toàn bộ khu vực này hầu như bị bưng bít bởi toàn bộ cộng đồng khảo cổ và gần như là không bao giờ được đề cập tới với du khách.

Độ chính xác ổn định của đường rãnh và những cái lỗ không thể nào có thể đạt được bằng bất kì một dạng công cụ thủ công nào từng được biết. Lời giải thích thỏa đáng nhất xem ra là nó đã được làm ra bằng máy móc hay có thể nào – bằng cách đúc khuôn?

LX chuyển dịch

Nguồn: Lịch Sử Cấm Kị Của Trái Đất




Còn nhiều điều khác tuyệt vời hơn nữa con người đã đạt được trong quá khứ xa xăm.

Ở miền đông Li Băng (Lebanon) có một thành phố gọi là Baalbek. Nơi đây thật sự lưu giữ có thể nói là một lời tuyên bố hùng hồn, kì tuyệt nhất trái Đất về một tàn tích, nó có tên gọi là Đền Jupiter (Temple of Jupiter) (Jupiter là tên một vị Thần trong thần thoại La Mã. Sau này người ta dùng tên này đặt tên cho một hành tinh trong thái dương hệ, đó là Sao Mộc, Jupiter)

Trong khi đang cố gắng xác minh nguồn gốc đích thực của ngôi đền tại Baalbek này, giới hàn lâm đã nói với chúng ta rằng vào năm 27 trước công nguyên, Hoàng Đế La Mã Augustus có lẽ là đã đưa ra một quyết định không thể hiểu được về chuyện xây dựng một ngôi đền vĩ đại nhất, hùng hồn nhất, sang trọng nhất không thể chối cãi, tại một nơi không ai biết.

Tàn tích tại Baalbek hùng vĩ đến tuyệt đối, với một cái sân rộng lớn được xây cất trên một nền đất rộng mà ngày nay vẫn còn được ngăn đỡ bởi ba bức tường khổng lồ. Những bức tường ngăn này được hình thành từ 27 khối đá vôi, với kích thước lớn hơn bất kì khối đá vôi nào có thể được tìm thấy trên thế giới. Mỗi một khối đá nặng ít nhất là 300 tấn, và có ba khối đá nặng hơn 800 tấn. Ba khối đá này đã có được danh tiếng cho mình và thường được biết đến với tên gọi “Đại Tam Thạch” (Trilithon). Đại Tam Thạch trong những bức tường ngăn là ba trong bốn tảng đá lớn nhất từng được nhấc lên trong lịch sử.

Đền Jupiter thật sự là một trong những ngôi đền cổ ấn tượng nhất trên thế giới. Với kích thước 88×48 mét và đứng trên một nền tảng hay bục đài, để dẫn lên nó là một bậc thang mà diển tả nó thì chỉ có thể nói là thật sự hoành tráng. Bục đài này cao hơn 13 mét so với địa hình xung quanh.

Bây giờ nếu chúng ta thật sự nghĩ về tất cả những điều này và cân nhắc những sự kiện đã được chính thức chấp nhận trong một khung thời gian giới hàn lâm đã đưa ra về lịch sử, địa điểm được chọn cho Ngôi Đền Sao Mộc này là hoàn toàn vô lý, và chúng ta không thể tìm được lý do thích đáng nào tại sao Augustus lại chọn địa điểm tại Baalbek để xây một ngôi đền nguy nga đến thế.

Vào thời La Mã, Baalbek chỉ là một thành phố nhỏ nằm trên tuyến đường buôn bán tới Damascus. Nó không có một tầm quan trọng nào về tôn giáo hay văn hóa đối với La Mã ngoài việc là một khu vực chôn cất được yêu thích của những bộ tộc bản xứ. Dường như nó có vẻ hoàn toàn khó hiểu là tại sao một đế chế La Mã rất ích kỉ lại phải thật sự vất vả khó nhọc tạo ra một công trình kiến trúc tráng lệ và xa xỉ đến thế tại Li Băng – và tại một nơi như Baalbek cách rất xa La Mã. La Mã, nói cho cùng là một đế quốc cực kì tham lam, và họ đã từng cướp bóc rất nhiều kho tàng lịch sử của những nước khác, ví dụ như những cột tưởng niệm (obelisks) bên Ai Cập, và cũng ngay trong khoảng thời gian Đền Jupiter đang được xây dựng.

Sẽ hợp lý hơn rất nhiều khi phán đoán rằng Baalbek có thể đã từng có cái gì đó mà người La Mã ham muốn. Có thể là một cái gì đó mà không nơi nào, kể cả La Mã, có thể cho họ được. Nó có thể là lý do tại sao có rất nhiều người có ước nguyện muốn được chôn cất ở đó. Nhưng chúng ta lại được bảo rằng, bởi thế giới hàn lâm, không, ngôi đền chắc chắn là có nguồn gốc từ La Mã bất khả tranh luận.

Tuy nhiên, có nhiều vấn đề nghiêm trọng với tuyên bố này. Khi điều tra những khối đá trong những bức tường ngăn tại ngôi đền Baalbek này rõ ràng cho thấy chúng đã bị hao mòn hơn rất nhiều so với tàng tích của Đền Jupiter và hai ngôi đền La Mã khác cũng đã từng được xây lên tại nơi này. Vì đá xây lên những bức tường ngăn cũng cùng loại với ngôi đền, chúng ta có thể giả định hợp lý rằng những khối đá bị hao mòn hơn một cách tự nhiên lâu đời hơn.

Cũng hoàn toàn hợp lý để phán đoán rằng ngôi đền La Mã thật ra đã là một sự bổ sung vào một nền tảng đã từng tồn tại trước đó rất lâu, và điều này cũng giúp giải thích luôn tại sao một địa điểm hoang vu như vậy đã được chọn xây đền – bởi vì nó cung cấp cho Augustus một nền tảng có sẵn để trên đó ông có thể xây dựng được ngôi đền của ông.

Vấn đề thực sự rất đơn giản và rõ ràng. Điều khó hiểu là tại sao ý kiến về việc những bức tường và cái bục đài có thể đã được xây nên trước khi có ngôi đền lại bị giễu cợt bởi cộng đồng khảo cổ chính quy. Mức độ hao mòn đáng kể nhìn thấy được trên những tảng đá lớn của bức tường ngăn đã quá đủ đạt tiêu chuẩn là một bằng chứng về tuổi thọ lớn hơn nhiều Ngôi Đền Jupiter. Thật rõ ràng để hiểu được rằng nếu có một bằng chứng địa chất đáng kể đối nghịch lại với một lý thuyết vậy thì lý thuyết đó rõ ràng là không đúng.

Nhưng có đây chính là một vấn đề cho những học giả hàn lâm, bởi vì điều này tất nhiên có nghĩa là khi người La Mã xây dựng Đền Jupiter, nếu mà họ đã làm điều này dựa trên một nền móng đã được tạo ra trước đây bởi những ai đó xa xưa, những người mà cho tới giờ phút này vẫn còn chưa biết và tất nhiên là họ không muốn khơi dậy cái “Nền văn minh cổ xưa” đó lần nữa.

Một điểm đáng chú ý nữa là đế quốc La Mã khi xưa đã từng nổi tiếng về một chế độ độc tài kiêu ngạo, và chúng ta đã không tìm thấy một chứng cứ nào trong sổ sách La Mã về việc xây dựng những bức tường ngăn tuyệt kĩ này. Chỉ có những văn bản lưu lại về khả năng vận chuyển xuyên suốt triều đại của nhiều vị hoàng đế La Mã, tính luôn Augustus. Những hồ sơ này cho biết rõ ràng giới hạn về việc chuyên chở những khối đá lớn tại La Mã thời đó là chỉ hơn 300 tấn một chút, và chúng chỉ có thể thực hiện được với một mức độ khó khăn rất lớn. Ví dụ như cuộc vận chuyển Cột Tưởng Niệm Laterano (Laterano Obelisk) tới La Mã, từng được ăn mừng nhiệt liệt, đã là một phi vụ khó khăn và nguy hiểm không tả xiết, kế hoạch đã phải kéo dài qua 3 triều đại hoàng đế. Và hơn thế, chúng ta còn biết được rằng cuộc vận chuyển của những khối đá khủng 800 tấn tại Baalbek cho Ngôi Đền Jupiter không thấy được nhắc tới trong những sổ sách lưu trữ. Dữ kiện này ngay lập tức đã cho thấy nghi vấn.

Một điểm đáng ghi chú khác là trong triều đại của Augustus, người La Mã cũng đã biết về bê tông, và rất thường xử dụng nó. Đấu Trường La Mã Coliseum vẫn còn đứng vững tại Roma ngày nay là một ví dụ điển hình về kiến trúc bê tông La mã cổ điển. Chỉ đơn giản nó không phải là phong cách người La Mã xây dựng với những tảng đá khổng lồ. Thật sự thì không có một kiến trúc đá tảng nào từng xuất hiện trong suốt những triều đại La Mã. Một điều quan trọng khác nữa là Ptolemy sau này đã đặt tên cho Baalbek thành Thành Phố Mặt Trời (Heliopolis). Để một người như ông ta đặt một danh hiệu đặc biệt như vậy rõ ràng nói lên được tầm quan trọng của nơi này, nó phải là một nơi chốn thiêng liêng, và phải có một đặc điểm kiến trúc đặc thù hoặc một mối liên kết đáng kể với Thành Phố Mặt Trời Khác, cũng là một địa phận của Ptolemy tại Ai Cập.

Vẫn còn một chi tiết nữa: Năm 636, Đền Jupiter đã bị chiếm đóng bởi người Ả Rập và nó đã bị biến thành một pháo đài, đồng thời họ cũng đã sửa sang thêm vào nó. Nó có nghĩa là những khối đá được dùng bởi người Ả Rập được thêm vào 650 năm sau những tảng đá La Mã.

Theo truyền thuyết của dân bản địa, Baalbek có thể đã từng là một trung tâm tôn giáo thờ phượng Baal trong nền văn minh Phoenicia, và truyền thuyết Ả Rập bản xứ tương truyền rằng những tảng đá ngăn tường khổng lồ này đã có từ thời của Cain và Abel (2 anh em trong Thánh Kinh Cựu Ước). Những phiên bản khác nói rằng bục đài đã được xây dựng bởi các vị Thần thời xa xưa.

Gần lối vào phía nam của Baalbek là một mỏ đá, nơi đá đã được sử dụng cho các đền thờ và những bức tường được cắt ra. Không có bất kì dấu vết nào về một con đường hay lối vận chuyển có thể được tìm thấy giữa mỏ đá và ngôi đền. Điều này cũng nêu ra những câu hỏi về cách thức vận chuyển những khối đá tảng 800 tấn tới địa điểm xây dựng, nếu nó thật sự được vận chuyển.

Điều này chỉ có thể có hai nghĩa: Hoặc là những khối đá dựng tường đã từng được di chuyển vào một thời đại rất xa xôi đến nỗi mọi dấu vết về con đường đã biến mất. Hoặc là chẳng cần một con đường nào hết. Thật sự thì có một con đường cũng vô ích bởi chính cái sức nặng khủng khiếp của những khối đá. Nếu có một con đường cho một loại công trình như thế thì nền móng của nó phải cực kì vững chắc và chắc chắn là nó sẽ phải vẫn còn lưu lại dấu vết cho tới ngày nay. Vậy thì chúng được di chuyển thế nào?

Tại khu vực mỏ đá còn có một tảng đá nguyên vẹn đã được xử lý lớn nhất trái Đất. Nó có tên là “Tảng Đá Thai Phụ” (“Stone of the Pregnant Woman.”) Được ước lượng nặng khoảng 1000 tấn, với kích thước 21.5m x 4.8m x 4.2m. Với kĩ thuật ngày nay không gì có thể di chuyển nó được. Thực tế, phải cần 24 cần cẩu hạng nặng mới có thể chỉ nhấc nó lên được, nhưng di chuyển nó là điều không tưởng.

______________

Trích – Lịch Sử Cấm Kị Của Trái Đất – Maxwell Igan

LX chuyển dịch

Ngoài những công trình bí ẩn được làm từ đá, còn có những dấu hiệu được tiết lộ về những cuộc phẫu thuật rất tinh vi tân tiến đã được thực hiện trong quá khứ xa xôi. Đã có những phát hiện về nhiều hộp sọ đã bị khoan trám (trepanned) từ thời đồ đá. Khoan trám là một quá trình phẫu thuật rất tinh xảo và khó khăn. Richard Mooney giải thích quá trình này trong cuốn sách “Thuộc Địa Trái Đất” (Colony Earth) của ông:

“Khoan trám ngày nay là một quá trình phẫu thuật lấy đi một phần của lớp xương sọ, với mục đích làm giảm nhẹ áp lực tạo ra bởi một khối u hay một khối máu đông, hoặc loại bỏ những mảnh xương vụn do những vết nứt gãy xương sọ gây ra, và vùng trống đó sẽ được đóng lại bởi một miếng xương khác. Phẫu thuật này không đơn giản chút nào và nó đòi hỏi một trình độ cực cao để thực hiện. Thật khó mà tin được là người đồ đá, nếu họ thật sự là vậy, đã được cho là cực kì hoang dị, đã có thể tiến hành được những cuộc giải phẫu với các kĩ thuật thô sơ, những con dao bằng đá, không có thuốc mê, hay không hề có ý niệm gì về an toàn vệ sinh.”

Bằng chứng cho thấy rằng những người được giải phẫu vẫn tiếp tục sống nhiều năm sau đó. Điều này thật đáng ngạc nhiên vì nếu so ra với trình độ y tế thời gian gần đây thì những bệnh nhân trải qua quá trình khoan trám tương tự có cơ hội sống sót rất thấp vì những lý do như nhiễm trùng, hay nhiễm độc, và nhiều sự phức tạp khác liên quan tới phẫu thuật hộp sọ.

Vậy mà có những bằng chứng khác về khoan trám cổ xưa xuất hiện tại Liên Xô Cũ, những cuộc khám nghiệm về các hộp sọ được khai quật tại Ishtikunuy gần Hồ Sevan tại Armenia cho thấy một kĩ thuật rất cao tương tự về phẫu thuật hộp sọ đã được thực hiện hơn 4000 năm trước! Một bệnh nhân đã bị chấn thương sọ não rất trầm trọng và người bác sĩ giải phẫu đã khéo léo đắp vào chỗ nứt bằng một mảnh xương thú đã được đẽo gọt vừa khít tinh vi. Hộp sọ cho thấy những dấu hiệu rõ rệt những tế bào xương của bệnh nhân đã phát triển trở lại và bao bọc lấy mảnh xương trám, điều này giải thích một cách đầy đủ rằng người đó đã sống sót được một thời gian khá lâu sau cuộc giải phẫu.

Một hộp sọ tương tự được tìm thấy tiết lộ về một người phụ nữ cũng đã được giải phẫu để loại bỏ một vật thể rộng 2.5 cm đã đập thủng sọ cô ta, xuyên thấu trực tiếp vào não, sự việc đã được một nhà giải phẫu tài tình cắt quanh vật thể này và đã lấy ra được những mảnh xương vỡ vụn và sau đó đã đóng lại vết thương sử dụng một miếng xương thú. Những ca giải phẫu loại này có thể nói là cực kì phức tạp vì nó có liên quan tới giải phẫu não, chưa hết, sự phát triển của xương sau cuộc giải phẫu chứng tỏ rằng bệnh nhân thời tiền sử này đã vẫn có thể sống tiếp tục nhiều năm sau đó.

_____________

LX chuyển dịch

Nguồn: Lịch sử cấm kị của trái đất – Maxwell Igan

Bản đồ Buache, 1737

Phillippe Buache là một nhà địa lý Pháp của thế kỷ 18, ông đã vẽ một bản đồ cho thấy rõ ràng Nam Cực, ngoại trừ là bản đồ của Buache cho thấy Nam Cực là hai mảnh đất riêng biệt, với bờ biển chi tiết. Trong nhiều năm, bản đồ được coi là sai bởi vì khi Nam Cực được phát hiện ra nó thật sự không nhìn giống như những gì Bauche đã vẽ.

Sau đó, vào năm 1958, một cuộc khảo sát địa chấn ở Nam Cực đã được thực hiện đáng, ngạc nhiên nó cho thấy rằng Nam Cực thực sự là hai quần đảo được bao phủ bởi một lớp băng dày làm cho nó xuất hiện như là chỉ có một vùng đất rộng lớn, và không chỉ vậy địa hình chung của các vùng đất dưới lớp băng còn giống với bản vẽ trên bản đồ Buache đến từng chi tiết. Làm thế quái nào mà chuyện này có thể xảy ra? Tấm bản đồ này có nghĩa rằng Buache đã từng sở hữu một bản đồ chính xác cho thấy Nam Cực 100 năm trước khi nó được phát hiện, và không chỉ vậy, khi nó còn không có bất kỳ băng tuyết nào.

Nam Cực đã không còn trong tình trạng không băng tuyết ít nhất 10.000 năm, nhiều nhà khoa học tin rằng thời điểm đó có lẽ là vài triệu năm thì đúng hơn.

Bản đồ Franco Rosselli, 1508

Franco Rosselli là nhà đồ bản nổi tiếng ở Florentine của thế kỷ 15 đã tạo ra một khắc bản đồng tương đối nhỏ nhưng có minh hoạ phong phú, được sơn màu thủ công trên giấy thuộc (giấy da bê), kích thước 6 x 11 inches (15.25 x 28 cm) . Tác phẩm được lưu giữ trong Bảo tàng Hàng hải Quốc gia Greenwich.

Tại thời điểm Rosselli tạo ra bản đồ, nó vẫn còn là một nghệ thuật thử nghiệm tương đối mới, điều này càng làm cho những tiết lộ trong bản đồ thế giới của ông thậm chí còn tuyệt vời hơn. Bản đồ mô tả về Nam Cực, nó là một công trình đòi hỏi độ chính xác cao và thậm chí nó còn đặt tên các khu vực khá cụ thể như Antarticus.

Các chi tiết trên bản đồ của Rosselli được vẽ vô cùng chính xác, và cũng như những tấm bản đồ trước đây, các đặc điểm địa lý như biển Ross và Wilkes Land đặc biệt dễ dàng để nhận dạng.

Một lần nữa, điều rắc rối về tấm bản đồ đặc biệt này là năm nó được vẽ năm 1508. Căn cứ theo lịch sử của chúng ta đây là trọn vẹn ba thế kỷ rưỡi trước khi Nam Cực được phát hiện. Và ở đây một lần nữa chúng ta có Nam Cực được mô tả chính xác trên bản đồ vào thế kỷ 15 ở Florentine.

Bản đồ Mercator, 1538

Và thậm chí còn có một bản đồ hấp dẫn khác nữa là một cái được vẽ trong năm 1538 bởi Mercator, một nhà đồ bản rất được kính trọng sống ở thế kỷ 16. Những công trình của ông khá nổi tiếng và bạn vẫn có thể mua một tập bản đồ Mercator trong các tiệm sách ngày nay. Mercator nổi tiếng với công việc cập nhật định kỳ bản đồ và sản xuất ra những tập bản đồ thế giới mới rõ ràng hơn khi những bờ biển đã được vẽ và khi ông ta có được những biểu đồ chính xác hơn. Trong khi làm một bản nâng cấp như vậy, bản đồ thế giới năm 1538 (hình 5) đã được thay thế bằng một bản mới trong năm 1569. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta biết rằng  không những tấm bản đồ năm 1538 trước đó thật sự đã chính xác hơn nhiều cái sau này, mà còn một điều tuyệt vời hơn nữa đã được chứng minh rằng nó cũng bao hàm luôn các phép đo lường kinh độ chính xác.

Hình 5

Để gom lại tất cả những gì đã được đề cập về kinh độ thành một nhận định chung: Kinh độ là khoảng cách tính bằng độ giữa một điểm phía đông hay tây tới Kinh Tuyến Gốc. Vì trái Đất xoay quanh trục, tính toán kinh độ khó hơn nhiều vĩ độ, để tính được vĩ độ thì chỉ cần xác định vị trí những ngôi sao hay quan sát mặt trời. Nhưng để tính toán kinh độ, ta cần tới công thức: ‘Khoảng cách = Vận Tốc x Thời Gian’ và quan trọng nhất là, một cái đồng hồ chính xác. Khám phá ra kinh độ đã từng một lần được xem là “vấn đề hóc búa nhất trong hải quân”, và trong những năm 1700, có một Ban Kinh Độ (Board of Longitude) ở Anh đã được thành lập để giải quyết vấn đề này . Năm 1714, Ngài Isaac Newton đã đứng trước Ban và giải thích rằng vấn đề thực sự là “một cái đồng hồ cần thiết với độ chính xác cao chưa từng được chế tạo.” Hoàng Hậu Anh sau đó liền treo giải thưởng 20,000 pounds cho bất kì ai có thể sáng chế ra được thiết bị này và cuối cùng, vào năm 1761, một người tên là Harrison đã thắng được giải với bản mẫu niên kế (chronometer) của ông, thiết bị này về sau đã mở ra một kỉ nguyên mới về ngành hàng hải cho thế giới.

Trong suốt thế kỷ 19, những tấm bản đồ đã bắt đầu được cập nhật với kinh độ chính xác. Tuy nhiên bản đồ Mercator năm 1538 được đánh dấu với kinh độ chính xác trọn 223 năm trước khi nó được phát hiện. Ông có thể có được thông tin đó từ đâu? Rõ ràng rằng Mercator đã không có kiến thức thực sự về kinh độ vào thời điểm đó và phải vay mượn hoặc nhận được thông tin từ một nguồn khác, bởi vì sau đó ông ta đã cập nhật các bản đồ tiếp theo của mình không chính xác với những thông tin được xem là mới hơn và đáng lý là phải đáng tin cậy hơn.

Các bản đồ này hợp lại thành những bằng chứng thực sự cực kì quan trọng, nếu người cổ xưa chưa bao giờ đi vòng quanh trái Đất hoặc từng sở hữu bất kỳ kiến thức về kinh độ thì làm thế nào mà bất cứ một trong những tấm bản đồ này tồn tại?

=============

Nhóm Học Giả Đường Phố chuyển dịch


Những bậc thầy huyền học và tâm linh từ xa xưa đã biết rằng cơ thể chúng ta được lập trình bởi ngôn ngữ, từ ngữ, và tư tưởng. Điều này đã được khoa học chứng minh và giải thích.

DNA con người là một mạng lưới internet sinh học, nó cao cấp tinh vi và phức tạp hơn mạng lưới internet thông tin toàn cầu chúng ta đang sử dụng rất nhiều. Nghiên cứu mới nhất từ các khoa học gia người Nga đã trực tiếp hoặc gián tiếp giải thích các hiện tượng như trực giác, siêu giác, chữa bệnh trực tiếp, chữa bệnh từ xa, tự chữa bệnh, ám thị, hào quang, điều khiển thời tiết và nhiều hiện tượng khác.

Thêm vào đó, có những bằng chứng về một dạng thuốc men có thể ảnh hưởng và lập trình DNA bằng từ ngữ và tần số mà không phải cắt bỏ đoạn genes và thay thế nó. Chỉ có 10% DNA của chúng ta được sử dụng để tạo ra các protein. Những nhà nghiên cứu về DNA phương tây chỉ chú trọng phân tích, phân loại nhóm 10% này. 90% còn lại được họ cho là “DNA rác” (junk DNA).

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu Nga chắc chắn rằng thiên nhiên thật không ngu ngốc, kết hợp với nhiều nhà ngôn ngữ học, và di truyền học họ đã đi sâu vào để khám phá 90% “DNA rác” đó. Những phát hiện, kết quả và kết luận của họ đơn giản có thể nói là một cuộc cách mạng!

Dựa trên những phát hiện này, DNA không những chỉ chịu trách nhiệm về sự hình thành nên cơ thể của chúng ta, mà còn hoạt động như một kho chứa dữ liệu và một trạm liên lạc dữ liệu thông tin. Các nhà ngôn ngữ học người Nga đã tìm thấy trong bộ mã di truyền – đặc biệt là trong nhóm “90% DNA vô dụng” – tuân theo một luật lệ giống như tất cả các hệ thống ngôn ngữ của con người.

Để có được kết quả này họ đã so sánh các cấu trúc ngôn từ cú pháp, ý nghĩa, và những quy ước căn bản trong ngữ pháp. Họ tìm ra rằng các chất kiềm trong DNA cũng tuân theo một dạng ngữ pháp thông thường và cũng có những quy định giống như ngôn ngữ. Vì thế, ngôn ngữ đã không xuất hiện một cách ngẫu nhiên, nhưng là một sự phản ảnh, đối chiếu từ DNA vốn có trong con người.

Nhà phân sinh và lý sinh học người Nga Pjotr Garjajev và đồng nghiệp của ông cũng đã khảo sát về những hành vi rung động của DNA. Có thể tóm gọn trong một dòng: “Nhiễm sắc thể hoạt động y như một cỗ máy tính ảnh nổi (holographic) sử dụng phóng xạ laser DNA nội sinh.” Điều này có nghĩa là chúng có khả năng biến đổi một số chiều mẫu tần số (âm thanh) thành một thứ như tia laser, nó sẽ ảnh hưởng đến tần số DNA và như thế thông tin di truyền của chính nó.
Vì cấu trúc căn bản của những cặp kiềm DNA và của ngôn ngữ tương đồng với nhau, giải mã DNA là không cần thiết. Chúng ta chỉ cần đơn giản dùng từ ngữ và lời nói trong ngôn ngữ! Điều này cũng đã được chứng minh bằng thí nghiệm!

DNA sống sẽ luôn luôn phản ứng với những tia laser đã được tinh chỉnh bởi ngôn ngữ và ngay cả các tần sóng radio, nếu những tần số thích hợp (âm thanh) được sử dụng. Điều này cuối cùng cũng đã được giải thích một cách khoa học rằng tại sao ám thị, thôi miên và những kĩ thuật tương tự có thể có được những hiệu ứng mạnh mẽ lên con người. Nó hoàn toàn bình thường và tự nhiên vì DNA của chúng ta phản ứng với ngôn ngữ.

Trong khi các nhà nghiên cứu tây phương phải cắt bỏ những đoạn genes từ chuỗi DNA và chèn chúng vào những nơi khác, người Nga đã hăng hái tạo ra được những thiết bị có thể gây ảnh hưởng lên quá trình trao đổi chất tế bào qua những tần số radio và ánh sáng đã được tinh chỉnh và sửa chửa được các lỗi di truyền.

Họ còn thâu lại được những chiều mẫu thông tin của một DNA đặc thù và chuyển dẫn nó vào một DNA khác, dẫn đến việc tái lập trình toàn thể bộ gene của tế bào. Họ đã thực hiện thành công quá trình biến đổi phôi thai ếch thành phôi thai kì nhông đơn giản chỉ bằng cách chuyển dẫn chiều mẫu thông tin DNA! Bằng cách này toàn bộ thông tin đã được chuyển dẫn mà không để lại một hiệu ứng phụ hay mất cân bằng nào so với cách thức cắt dán DNA.

Điều này dẫn đến một cuộc cách mạng khó tin có thể thay đổi thế giới: đơn giản chỉ bằng cách áp dụng những rung động lực, tần số âm thanh và ngôn ngữ thay vì phương pháp cắt dán thô sơ.

Thí nghiệm này hướng đến một sức mạnh lớn lao của ngành sóng di truyền, nó rõ ràng là có ảnh hưởng nhiều hơn lên thông tin của sinh vật hơn là những quá trình hóa sinh của các dãy kiềm.

Một bài học có thể được rút ra từ dữ kiện này là nếu ta có thể thay đổi được tần số của mình ta có thể thay đổi được DNA. Tâm thức cá nhân nào càng phát triển càng ít phải cần đến bất kì một công cụ máy móc nào như trong các thí nghiệm. Một người có thể tự mình đạt được những kết quả như ý. Tất nhiên cái tần số phải đúng. Và đây là lý do tại sao cùng một năng tần mà không thể ảnh hưởng đồng nhất lên tất cả mọi người. Cá nhân đó phải làm việc với những quy trình biến triển nội tại để thiết lập một sự liên thông ý thức trực tiếp với DNA.

Tâm thức cá nhân nào càng phát triển càng ít phải cần đến bất kì một công cụ máy móc nào như trong các thí nghiệm. Một người có thể tự mình đạt được những kết quả như ý. Tất nhiên cái tần số phải đúng. Và đây là lý do tại sao cùng một năng tần mà không thể ảnh hưởng đồng nhất lên tất cả mọi người. Cá nhân đó phải làm việc với những quy trình biến triển nội tại để thiết lập một sự liên thức (hyper-communication) trực tiếp với DNA. Nó chưa kết thúc ở đây.

Các nhà khoa học Nga cũng đã khám phá ra rằng DNA của chúng ta có thể tạo ra được những định dạng rối loạn trong chân không, sản sinh ra những lỗ sâu từ năng (sâu trong ‘con sâu’) (magnetized wormholes). Lỗ Sâu tương đồng vi mô với những cái được gọi là cầu nối Einstein-Rosen liên quan đến Lỗ Đen (là cái được để lại bởi những ngôi sao đã chết)

Những kết nối kênh dẫn giữa các vùng hoàn toàn khác biệt trong vũ trụ mà qua nó thông tin có thể được dịch chuyển vượt ngoài không-thời. DNA thu hút từng miếng nhỏ thông tin và chuyền chúng đến ý thức của chúng ta. Quy trình siêu liên thức này (thần giao cách cảm, nhập đồng) có hiệu quả nhất khi ở trong tình trạng thư giãn.

Lo lắng, trầm cảm hay một tâm trí siêu năng động ngăn ngừa quá trình siêu liên thức hoặc thông tin sẽ hoàn toàn bị bóp méo và vô dụng. Trong thiên nhiên, siêu liên thức đã được áp dụng thành công trong hàng triệu năm. Cơ cấu tổ chức nhịp nhàng trong đời sống côn trùng chứng minh điều này một cách sâu sắc. Con người hiện đại chỉ biết đến nó trên một bình diện tinh tế gọi là trực giác. Nhưng chúng ta, nếu biết cách, có thể tìm lại được toàn bộ lợi ích của nó.

Một ví dụ từ thiên nhiên, khi một con kiến cái chúa rời khỏi thuộc địa của nó, những con kiến thợ còn lại vẫn tiếp tục làm việc nhiệt thành theo kế hoạch. Tuy nhiên, nếu kiến chúa chết, mọi công việc trong tổ kiến lập tức ngừng hoạt động. Những con kiến sẽ không biết phải làm gì nữa. Rõ ràng rằng, kiến chúa có khả năng phát truyền cái kế hoạch hoạt động, ngay cả khi nó ở một nơi cách xa, đến miền thức tập thể của đàn kiến. Nó có thể ở xa thật xa không cần biết, miễn là nó còn sống.

Ở loài người, siêu liên thức thường được bắt gặp khi một người bỗng nhiên đạt được kết nối với thông tin nằm ngoài nền kiến thức của họ. Sự siêu liên thức này được trải nghiệm dưới hình thức như những nguồn cảm hứng hay trực giác, hay trong một buổi nhập đồng. Nhà soạn nhạc người Ý Giuseppe Tartini, là một ví dụ, một đêm mơ thấy rằng có một con quỉ (devil) ngồi kế bên giường ngủ của ông và chơi một bản nhạc violin. Sáng hôm sau Tartini đã viết lại chính xác toàn bộ bản nhạc đó từ kí ức. Ông đặt tên bản nhạc đó là Devil’s Trill Sonata.

Trong quyển sách Vernetzte Intelligenz của Grazyna Gosar và Franz Bludorf, họ đã giải thích chính xác và rõ ràng những mối liên hệ này. Tác giả cũng đã trích dẫn nhiều nguồn chỉ ra rằng thời xa xưa loài người cũng đã từng sống rất giống loài vật: có liên kết chặt chẽ với miền thức chung của cộng đồng và vì thế hành động theo nhóm. Để có thể phát triển và trải nghiệm tính cách cá nhân, tuy nhiên, loài người phải quên đi khả năng siêu liên thức gần như là hoàn toàn.

Giờ đây tâm thức cá nhân trong chúng ta đã tương đối ổn định, chúng ta có thể hình thành một đạng tâm thức tập thể mới – cái mà trong đó chúng ta có được kết nối đến tất cả thông tin qua DNA của chúng ta mà không bị buộc phải hay kiểm soát về việc phải làm gì với thông tin đó. Ngày nay chúng ta biết rằng cũng như khi chúng ta sử dụng internet, DNA của chúng ta cũng có thể đưa dữ liệu vào mạng lưới, hay cũng có thể trích dữ liệu ra từ mạng lưới. Chữa bệnh từ xa, thần giao cách cảm hay cảm nhận từ xa về tình trạng của một người khác vì thế đã có thể được giải thích. Nhiều con vật biết được khi nào chủ của nó trở về nhà. Vấn đề này cũng có thể được lý giải qua khái niệm về tâm thức tập thể và siêu liên thức.

Bất kì miền thức tập thể nào đều không thể được sử dụng mà không có một tâm thức cá thể; nếu không chúng ta sẽ trở ngược về bản năng bầy đàn sơ khai, cái có thể dễ dàng bị điều khiển. Siêu liên thức trong thiên niên kỉ mới có một ý nghĩa hoàn toàn khác.

Các nhà nghiên cứu nghĩ rằng nếu con người với ý thức cá nhân đầy đủ sẽ có lại được cái ý thức tập thể, họ sẽ có được những năng lực siêu thường để sáng tạo, sửa đổi và định hình sự vật trên trái đất. Và loài người một cách tập thể đang đi đến cái miền thức tập thể mới này.

50% học sinh cảm thấy khó khăn khi đi học, vì cái hệ thống gom tất cả học sinh lại và đòi hỏi điều chỉnh. Nhưng ý thức cá nhân của trẻ em ngày nay quá mạnh nên chúng từ chối sự điều chỉnh này và chống lại việc buông bỏ những đặc tính cá nhân của chúng bằng những cách đa đạng nhất.

Cùng lúc đó càng ngày càng có nhiều những đứa trẻ thấu thần (clairvoyant) được sinh ra. Có cái gì đó trong những đứa trẻ này đang vươn tới miền tâm thức tập thể mới này hơn, và nó không thể nào có thể bị kiềm hãm nữa.

Như một quy luật, thời tiết là một ví dụ, khó có thể nào bị tác động bởi một cá nhân duy nhất. Nhưng nó có thể được tác động bởi miền thức tập thể (điều này không có gì mới đối với một số bộ tộc bản địa). Thời tiết bị tác động mạnh mẽ với các tần số cộng hưởng của Trái Đất (tần số Schumann). Nhưng những tần số đó cũng có thể được não bộ chúng ta tạo ra, và khi có nhiều người cùng đồng hưởng một ý nghĩ hay khi có những cá nhân (những bậc thầy tâm linh, ví dụ) tập trung ý nghĩ của họ một cách mạnh mẽ như một tia laser, thật không có gì ngạc nghiên khi họ cũng có thể tác động lên thời tiết.

Nền văn minh hiện đại ngày nay nếu tập trung phát triển miền thức tập thể sẽ không gặp phải những vấn đề về môi trường hay tình trạng thiếu hụt năng lượng: vì nếu nó sử dụng được nguồn năng lực tinh thần này như một cộng đồng hợp nhất, nó sẽ kiểm soát được toàn bộ nguồn năng lượng của hành tinh như một hệ quả tất yếu.

Khi có một số lượng lớn người biết kết hiệp với những ý nghĩ cao thượng ví dụ như khi thiền quán về hòa bình – những khả năng bạo lực sẽ tan biến.

Một cách rõ ràng, DNA đồng thời cũng là một chất siêu dẫn (superconductor) hữu cơ và có thể hoạt động ở một nhiệt độ cơ thể bình thường, trái với chất siêu dẫn nhân tạo, nó đòi hỏi một nhiệt độ cực thấp -250 °C đến -135 °C để có thể hoạt động. Thêm vào đó, mọi chất siêu dẫn đều có thể chứa ánh sáng, và vì thế thông tin. Điều này lý giải như thế nào mà DNA có thể chứa thông tin.

Còn có một hiện tượng khác liên quan đến DNA và các lỗ sâu. Bình thường thì các lỗ sâu cực nhỏ rất không ổn định và chỉ tồn tại được trong vài sát na. Dưới một số điều kiện ổn định lỗ sâu có thể tự kết cấu, và sau đó hình thành nên những miền chân không (vacuum domains) đặc thù trong đó, ví dụ như, trọng lực có thể biến đổi thành điện năng. Các miền chân không là những quả cầu khí được ion hóa tự sáng (self-radiant balls of ionized gas) chứa đựng một mức năng lượng đáng kể. Có nhiều vùng trong nước Nga nơi mà những quả cầu phát sáng này xuất hiện rất thường xuyên.

Để tìm hiểu về sự mập mờ này những người Nga đã tiến hành nhiều chương trình nghiên cứu quy mô cuối cùng đã dẫn đến những khám phá kể trên. Nhiều người biết rằng các miền chân không như những quả cầu sáng loáng trên bầu trời. Qua bài viết này chúng ta đơn giản là đã bước được một bước lớn để thấu hiểu thực tại.

===============

LX chuyển dịch
http://www.fosar-bludorf.com/index_eng.htm
http://www.papimi.gr/rusDNAdisc.htm

Chương 2

 

Những câu đố của quá khứ

 

Mọi thứ đã bắt đầu khi tôi còn là một đứa trẻ, tôi đã nhìn thấy được một bức ảnh về Kim Tự Tháp. Lúc đó người ta nói với tôi là không ai thực sự biết nó đã được xây lên như thế nào, từ giây phút đó tôi đã bắt đầu bị cuốn hút bởi cái quá khứ bí ẩn của chúng ta.

Từ lúc đó, tất cả các mối quan tâm về truyện tranh của tôi đã được dẹp bỏ, bây giờ tôi bắt đầu lục lọi cuốn bách khoa toàn thư của mẹ tôi. Dù tôi không thể hiểu được phần lớn văn bản, nhưng những hình ảnh về khủng long và các cấu trúc cự thạch cổ xưa và huyền bí đã hoàn toàn thấm nhuần vào người tôi. Họ đến từ đâu? Tôi thắc mắc. Nhân loại có thực sự có một lịch sử chưa được biết đã mất tích hoặc lãng quên? Có thể thực sự có được một nền văn minh tối tân từ thời xa xưa, trước cái lịch sử đã được lưu lại của chúng ta? Những câu hỏi và những cuộc tranh luận về vấn đề này đã nổ ra trong nhiều năm. Khi được hỏi, hầu hết các học giả sẽ cho bạn biết rằng đó là một ý kiến hay, nhưng cho cùng thì huyền ảo, và thật sự là không có bằng chứng nào cho thấy rằng có một nền văn minh đã từng thực sự tồn tại. Tuy nhiên, nhiều người khác sẽ lập luận rằng thật sự là có một khối lượng đáng kể bằng chứng tồn tại mà chỉ đơn giản là không thể được giải thích qua loa. Vậy thì, sự thật là gì? Chúng ta đang nói tới những bằng chứng nào? Một mớ  các bức vẽ lạ thường trong hang động và các lý thuyết bí truyền bởi những con người kì lạ, hay là có một cái gì đó rõ ràng hơn?

Hoàn toàn thành thật mà nói, bằng chứng nhân chủng học, dù có thuyết phục thế nào, cũng luôn tùy vào tình huống, trong khi truyền thuyết và huyền thoại không chứng cớ mới là đáng ngờ và một cách tự nhiên nó dẫn tới những diễn giải cá nhân, vì vậy ta cần phải tìm kiếm một sự xác thực xa hơn. Khi ta làm thế, ta thấy rằng thực tế là có một khối lượng lớn bằng chứng vật chất rõ rệt, ngày càng nhiều hơn, và nó đang đi một chặng đường dài dẫn tới việc loại bỏ những gì ta đã được dẫn dắt để tin. Những bằng chứng này cho chúng ta biết rằng hoặc là lịch sử chúng ta được dạy về Trái Đất là sai, hoặc là lịch sử chúng ta được dạy về sự phát triển của nhân loại là sai – hoặc là cả hai.

Thực tế này đang nhanh chóng trở thành quá lớn để có thể từ chối, và ngày càng có nhiều bằng chứng đang được tìm thấy thường xuyên hơn bao giờ hết để củng cố cho cái kết luận. Nên cái kết luận rõ ràng ta đang phải đối mặt với ở đây là cộng đồng hàn lâm hoặc là hoàn toàn ngu ngốc (điều đó là đáng nghi ngờ) hoặc là chỉ đơn giản không nói cho ta biết sự thật! Có lẽ họ đang chờ đợi đúng thời điểm …

Nhưng trước khi chúng ta cố gắng tìm xem câu trả lời cho câu đố của chúng ta nằm ở đâu, chúng ta hãy điều tra xem các bằng chứng về một nền văn minh cổ đại với công nghệ cao cấp thực sự có tồn tại đó là gì, dưới hình thức nào, và liệu chúng ta sẽ được trình bày bởi bất cứ điều gì thực sự không thể giải thích? Và như bạn sẽ thấy, các bằng chứng cho thấy toàn bộ lịch sử của chúng ta là sai thực sự khá là bao la, dưới nhiều hình thức khác nhau. Nhưng để bắt đầu, chúng ta có thể kiểm tra một số Kì Vật (Ooparts – out ouf place artifacts) trêu ngươi đã đề cập trong chương trước, và theo lịch sử chính thống của chúng ta chúng ta, những vật thể này thực sự là cực kỳ Kì Lạ!

Một vài lời cũng phải được nói ở đây về các phương pháp được sử dụng để định tuổi nhiều hiện vật này. Trong những hiện vật có chứa vật chất hữu cơ, phương pháp giám niên Cacbon Phóng xạ (Radiocarbon dating) được sử dụng. Trong khi những hiện vật vô cơ khác thì được định tuổi bằng cách giám niên các lớp địa tầng nơi chúng được tìm thấy, và các phương pháp tiêu chuẩn địa chất khác. Tính chính xác của cả hai kỹ thuật này có thể xê xích tùy vào các sự kiện trong quá khứ có thể đã xảy ra tại địa điểm được thẩm định, điều này sẽ được thảo luận sau, nhưng bây giờ, hãy xem xét một số Bí Ẩn.

 

============

 

Nhóm Học Giả Đường Phố chuyển dịch

Bản đồ Piri Reis, 1513

Năm 1929, một bản đồ đáng kinh ngạc được phát hiện tại Viện Lưu Trữ Hoàng Gia (Imperial Archives) tại Constantinople, nó đã nằm ở đó, hầu như chưa từng được xem xét, trong nhiều năm. Bản đồ (Hình 1), đã được vẽ vào năm 1513 bởi một đô đốc Thổ Nhĩ Kỳ tên là Piri Reis, chỉ ra Bắc Mỹ, Nam Mỹ, quốc gia Greenland và Nam Cực. Tuy nhiên điều khó hiểu về tấm bản đồ này là Nam Cực đã chưa được khám phá vào năm 1513. Nam Cực chưa được khám phá trước năm 1820 và Châu Mỹ đã chỉ được phát hiện vào năm 1492, 21 năm trước khi bản đồ được vẽ, nhưng nó vẫn được đo vẽ khá chính xác. Đáng lưu ý là, bản đồ cũng mô tả một số vùng đất với kinh độ chính xác của nó mặc dù chính vấn đề kinh độ cũng đã chưa giải quyết đến cho đến cuối những năm 1700.

Reis là một Đô Đốc người Thổ Nhĩ Kỳ nổi tiếng của thế kỷ 16. Ông có một niềm đam mê với các bản đồ, Ông say mê thuật họa đồ (cartography) và là một thủy thủ đáng kính giàu kinh nghiệm. Thời đó, ông được coi là một chuyên gia về tất cả các miền đất Địa Trung Hải và những bờ biển, được nhiều ưu ai cao quý trong tòa án Thổ Nhĩ Kỳ. Tư cách cao trọng như vậy cho phép ông được hưởng đặc quyền truy cập vào Thư viện Hoàng Gia tại Constantinople và ông đã dành nhiều thời gian rảnh rỗi của mình ở đó. Trong ghi chép của ông, Reis nói rằng ông đã vẽ bản đồ của mình dựa trên một số bản đồ lâu đời hơn nhiều ông đã tìm thấy trong thư viện, trong đó có một cái đã được thuật lại là Columbus đã xem trước khi chuyến đi của mình đến châu Mỹ.

Tấm bản đồ này trong nghi vấn được cho là đã bị lấy đi từ người Tây Ban Nha trong một đính hôn hải quân, và sau đó được cho đô đốc từ một tù nhân người Tây Ban Nha, tù nhân này rõ ràng đã từng là người có mặt trong  ba của chuyến hải trình khám phá Thế Giới Mới của Columbus! Nhiều học giả đã thực sự nghi ngờ rằng Columbus đã sở hữu tấm bản đồ và đã biết về sự tồn tại của Chây Mỹ trước khi bắt tay vào hành trình khám phá nổi tiếng của mình. Reis cũng đã viết một cuốn sách rất nổi tiếng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ trên thuyền tựa đề là ‘Kitababi Bahriye’, trong đó ông đưa ra mô tả chi tiết và chính xác của các đường bờ biển, bến cảng, vùng, vịnh, dòng chảy, vùng nước nông và eo biển Địa Trung Hải và Biển Aegean. Ông đã bị xử trảm bởi Tòa án Thổ Nhĩ Kỳ trong năm 1554 hoặc 1555 vì những lý do hiện nay chưa biết.

Trong trường hợp bạn không nhìn thấy, đó là phần trên của châu Phi phía trên bên phải bản đồ và mũi của Nam Mỹ vươn ra từ phía bên trái của bản đồ, chạy qua vịnh Mexico và lên đến Bắc Mỹ. Mũi của Nam Cực có thể được nhìn thấy nhô lên trên góc dưới bên phải. Một điểm thú vị về tấm bản đồ này là cách bố trí kì lạ của lục địa Nam Mỹ trông như thể nó  bị kéo dài ra. Tuy nhiên, nếu nhìn Trái Đất từ không gian, một cách chính xác nó sẽ cho ra góc nhìn này. Buồn cười là…

============================

nhóm Học Giả Đường Phố chuyển dịch

Nguồn: Lịch Sử Cấm Kị của Trái Đất – Maxwell Igan

 

Bản đồ Oronteus Finaeus  đã được tìm thấy vào năm 1960 bởi Charles Hapgood và nó cũng vậy, rõ ràng cho thấy lục địa Nam Cực cùng với những khung nét chính xác của các con sông ở Nam cực được bao phủ bởi các dòng sông băng rất dày. Bản đồ này được tìm thấy trong Thư viện Quốc hội ở Thủ đô Washington DC, Hoa Kỳ, nơi nó đã nằm đó, không được tra cứu trong  rất nhiều năm. Trong bản đồ, lục địa và bờ biển được cho thấy hoàn toàn không có băng tuyết, và như tấm bản đồ Piri Reis, nó cũng cho thấy một mô tả chính xác về biển Ross mà ngày nay nó hoàn toàn bị ẩn bên dưới một tảng băng nổi dày hàng trăm mét.

Các nghiên cứu mẫu lõi lấy từ các tảng băng Nam Cực đã rõ ràng cũng tiết lộ có rất nhiều lớp địa tầng trong băng cho thấy khu vực này đã thực sự trải qua nhiều thời kỳ thay đổi môi trường đáng kể. Một số đọng trầm tích đã được tìm thấy trong các mẫu nước biển đã chảy vào khu vực và thậm chí chúng còn có thể được định tuổi. Các xét nghiệm cho thấy là các trầm tích được lắng đọng vào khoảng 4000 năm trước, điều đó chỉ ra rằng dòng biển Ross đã từng có sự lưu thông, không băng tuyết, vào thời điểm đó để cho sự lắng đọng có thể xảy ra.

[LX chuyển dịch]

Nguồn: Lịch Sử Cấm Kị của Trái Đất – Maxwell Igan