Archive for Tháng Chín, 2012


Mẩu Ngón Tay Hoá Thạch.

Một hiện vật kỳ lạ tương tự khác tồn tại một cách khó tin là mẩu hoá thạch ngón tay người. Mẩu hoá thạch được biết dưới số hiệu “DM93-083” có niên đại từ Kỷ Phấn Trắng hay cách đây khoảng 100 đến 110 triệu năm (hình 41). Phim chụp X quang của mẫu vật cho thấy một vùng loãng ít đặc hơn trong ngón tay, cho thấy sự tồn tại của tuỷ bên trong xương. Hiển thị trên hình chụp X quang là vùng tối ở giữa ngón tay.

 

Hình 41

 

Chuông Đồng Trong Than Đá

Trong một khám phá vào năm 1944 mà đến nay đã trở thành một đề tài phổ biến, người đàn ông tên Newton Anderson đã tìm thấy chiếc chuông đồng cổ kỳ lạ này trong một tảng than được khai thác gần nhà ông, tại West Virginia (hình 42). Newton vô tình đánh rơi làm vỡ tảng than để lộ ra một chiếc chuông được bao bọc bên trong. Những đợt kiểm nghiệm gắt gao cũng như phân tích toàn diện tại Đại học Oklahoma đã chỉ ra chiếc chuông chứa những kim loại đã biết, nhưng trộn lẫn trong một một hỗn hợp lạ thường, chẳng giống bất kỳ hợp kim nào chúng ta từng biết.

Hàng loạt các trường hợp phát hiện vật thể lạ trong than cũng đã được ghi nhận, kể cả câu chuyện dây chuyền vàng chạm trổ tinh xảo hay cái nồi sắt đã được nói ở trên.

 

Hình 42

 

Người Đàn Ông Rhodesia

Năm 1921, một bí ẩn kỳ lạ khác đã được khơi mào bằng một hộp sọ của người Neanderthal được tìm thấy sâu trong lòng đất 18 mét. Những thẩm định chi tiết cho thấy phần hộp sọ bên trái thái dương đã bị đâm thủng với tốc độ tương đương một viên đạn (hình. 43). Các kiểm nghiệm cho thấy vết thương dẫn đến tử vong ngay lập tức chứ không phải bởi một viên đạn lạc bắn ra nhiều năm sau đó.

Điều này có nghĩa là, chưa biết ai đã bắn ra phát đạn chí tử, nhưng chắc chắn, đó là phát đạn đã cách đây hàng nghìn năm. Dẫn lời Rene Noorbergen, một tác giả khảo cổ học: “Một toà án pháp lý tại Berlin, nước Đức đã kết luận rõ ràng rằng, vết thương trên hộp sọ người đàn ông Rhodesia chỉ có thể gây ra bởi một viên đạn.” Lỗ tròn để lại trên vết thương cũng chứng tỏ vật thể được bắn đi với vận tốc cực lớn.

 

Hình 43

 

Advertisements

“Trong kinh điển Nikaya, câu hỏi về sự tồn tại của Trời, God, được suy xét chủ yếu một là từ góc độ liên quan đến nhận thức luận (epistemological), hoặc hai là từ góc độ luân lý. Với góc độ nhận thức luận, câu hỏi về sự tồn tại của Trời chung qui dẫn đến một sự thảo luận về việc có hay không một tầm giả tôn giáo có thể chắc chắn rằng có một cái thiện tối cao và vì thế những nỗ lực của hắn để nhận ra cái thiện tối cao này sẽ không là một sự tranh đấu vô nghĩa hướng đến một mục tiêu không thực tế. Và với góc độ luân lý, câu hỏi chung qui dẫn đến sự thảo luận về có hay không việc con người một cách cùng nhất chịu trách nhiệm cho mọi bất hạnh hắn cảm thấy , hoặc có hay không một thực thể cao cấp hơn đem đến những bất hạnh cho con người mà không cần biết hắn có đáng bị như vậy hay không…. Phật Thích Ca được miêu tả không phải như là một người vô thần, một người tuyên bố có khả năng chứng minh sự không tồn tại của Trời, nhưng đúng hơn là một người nghi ngờ các tuyên bố của những vị thầy khác về việc có khả năng dẫn dắt môn đồ của họ hướng đến cái thiện tối cao.

Trong khi người đọc bị bỏ ngỏ để kết luận rằng chính sự ràng buộc, thay vì Trời, những hành động trong các kiếp trước, số mệnh, vị trí sinh thành, hay những nỗ lực trong kiếp này mới chính là những yếu tố chịu trách nhiệm cho những trải nghiệm về đau khổ. Không có một lý lẽ có hệ thống nào được đưa ra để cố gắng bác bỏ sự tồn tại của Trời.”

– Richard Hayes (Giáo sư, Tiến sĩ Triết học Phật Giáo tại đại học University of New Mexico. Một học giả danh tiếng trong lĩnh vực Phạn ngữ Phật Giáo, chuyên nghiên cứu về Dharmakīrti (Pháp Xứng) và Dignāga (Trần Na). Từng là giáo sư dạy Phạn ngữ tại McGill University, Canada.)

 

 

[LX chuyển dịch]

 

Năm 1912, có hai công nhân đang cuốc than tại nhà máy điện thành phố Thomas, tiểu bang Oklahoma, và đã đập vỡ ra một khối than để bỏ vào lò, ngạc nhiên thay vào lúc đó, có một cái nồi bằng sắt bị rơi ra (hình 33). Một số chuyên gia sau đó đã kiểm tra cái nồi và  tuyên bố rằng nó là hàng thật. Dấu vết của cái nồi cũng vẫn còn có thể được thấy rõ trong khối than bao bọc nó nay đã vỡ.


Theo như Robert O. Fay của trung tâm khảo sát địa chất Oklahoma, mỏ than đá Wilburton nơi cái nồi được phát hiện được giám định là khoảng 312 triệu năm tuổi.

 

 

1. Quy luật Tạo Sinh (the Law of Biogenesis) của Louis Pasteur

(Louis Pasteur (27 tháng 12, 1822 – 28 tháng 9, 1895), nhà khoa học nổi tiếng người Pháp, là người tiên phong trong lĩnh vực vi sinh vật học.): Sự sống phải bắt nguồn tự sự sống. Nói 1 cách đơn giản, con cái phải có bố mẹ sinh ra. 1 sinh vật có ý thức dù là một tế bào nhỏ nhất, đơn giản nhất không thể được tạo ra từ sự kết hợp của những nguyên tử hóa học vô thức. Là một quy luật đã được minh chứng thực nghiệm. Nếu tiếp tục đặt câu hỏi nguồn gốc sự sống bắt nguồn như thế nào, thì riêng đối với khoa học chính quy vẫn còn là một câu hỏi chưa có lời giải đáp. Để cho Darwin đúng thì quy luật còn gọi là tảng đá góc tường của sinh học hiện đại, quy luật vững chắc nhất của sinh học này phải sai.

“Học thuyết về sự tự sinh (spontaneous generation) sẽ không bao giờ có thể hồi phục lại được từ cú đấm như trời giáng của thí nghiệm đơn giản này. Không, không có một trường hợp nào được biết để có thể khẳng định rằng vi sinh vật có thể có mặt mà không có vi trùng, không có cha mẹ giống chúng.” – Louis Pasteur

2. Tế bào nhân sơ không tiến hóa lên tế bào nhân chuẩn qua đột biến

Tế bào nhân sơ không tiến hóa lên tế bào nhân chuẩn qua đột biến, mà qua dị hợp cộng sinh (symbiosis). Sự kiện các vi khuẩn đơn bào tiến hóa thành những tế bào lớn hơn và phức tạp chúng gấp trăm lần là một câu chuyện bị bỏ trống hoàn toàn trong thuyết tiến hóa.

Tế bào nhân sơ thật ra có cấu trúc phức tạp hơn Darwin tưởng tượng rất nhiều.

“Đúng là tế bào nhân chuẩn là những tế bào phức tạp nhất mà chúng ta biết. Nhưng các dạng sống đơn giản nhất mà chúng ta biết, các tế bào nhân sơ, bản thân chúng cũng cực kì phức tạp. Nếu nhân chuẩn là một chiếp laptop thì nhân sơ cũng là một chiếc điện thoại di động. Không có bất cứ bằng chứng nào cho thấy có những dạng sống đơn giản hơn mà từ nó nhân sơ tiến hóa thành.” – Jonatthan Wells (nhà sinh học) và William Dembski (nhà toán học)

3. Sự bùng phát trong kỷ Cambri (Cambrian explosion)

Sự xuất hiện một cách đột ngột của hầu hết các nhánh ngành động vật chính cách đây khoảng 530 triệu năm như các lưu trữ hóa thạch đã chứng minh. Trước 580 năm trước, hầu hết các sinh vật chỉ là những cá thể đơn giản. Chỉ trong vòng 70-80 triệu năm tốc độ tiến hóa đã gia tăng với một tốc độc đáng ngạc nhiên đến bí ẩn. Chính Darwin đã ghi chú trong cuốn sách Nguồn Gốc Các Loài của ông rằng, sự xuất hiện đột ngột các động vật chân đốt trong các lưu trữ hóa thạch trong kỷ Cambri nên lên một khúc mắc cho học thuyết tiến hóa.

4. Không có các nối kết trung gian.

“Số lượng các hình thái trung gian, đã phải từng tồn tại trên trái đất, phải là rất lớn. Vậy mà tại sao các nối kết trung gian này lại không thể được tìm thấy trong các lớp địa tầng? Đây có lẽ là sự phản đối rõ ràng và can đảm nhất có thể được nêu lên để chống lại giả thuyết của tôi.” – Charles Darwin, Nguồn Gốc Các Loài

“Mọi nhà cổ sinh vật học đều biết rằng các lưu trữ hóa thạch chứa đựng rất ít các dạng thái trung gian; quá trình chuyển đổi giữa các nhóm chính có thể nói là xảy ra một cách đột ngột.” – Stephen J. Gould, giáo sư đại học Harvard

5. Tính bất chuyển, không thay đổi, của sinh vật.

“Tính bất chuyển (statis) của hầu hết các giống loài hóa thạch xuyên suốt quá trình tồn tại lâu dài của nó như được thấy trong địa chất đã được tất cả các nhà cổ sinh vật học công nhận một cách hiển nhiên, nhưng hầu như chưa bao giờ được nghiên cứu chi tiết vì cái giả thuyết thịnh hành xem nó như là một phi-bằng chứng không thú vị cho phi-tiến hóa. Sự đại trà áp đảo của tính bất chuyển trong các tàn tích hóa thạch trở thành một đặc điểm đáng xấu hổ, nhưng đã bị bỏ lơ đi như là không có gì cả.” – Stephen J. Gould

6. Thông tin trong DNA

“Thông tin là thông tin, chẳng phải là vật chất, hay năng lượng. Chủ nghĩa vật chất nào thất bại không nhận thức được điều này sẽ không sống sót nổi một ngày.” – Norbert Weiner (giáo sư toán học tại đại học MIT, được xem là cha đẻ của ngành điều khiển học, cybernetics)

Thông tin không phải là vật chất, nhưng nó có thể được chuyển tải thông qua vật chất. Chưa có một bằng chứng nào cho thấy thông tin có thể tiến hóa hay cải tiến qua đột biến.

Lỗi copy, còn gọi là đột biến điểm, xảy ra 1 lần trong 10 tỉ ký tự. Và mỗi chuỗi DNA con người chứa khoảng 3 tỉ kí tự di truyền.

“DNA cũng giống như một chương trình điện toán, nhưng cao cấp hơn nhiều, rất nhiều bất cứ một phần mềm nào đã từng được tạo ra.” – Bill Gates

“Số lượng thông tin có thể chứa trong DNA trên một đầu kim tương đương với một chồng sách bìa mỏng 500 lần độ dài từ trái đất đến mặt trời, với nội dung riêng biệt không lặp lại.” – Jonathan Sarfati, nhà vật lý học và hóa học.

Nói cách khác nếu chúng ta có một ổ cứng 40 gig, một đầu kim DNA có thể chứa gâp 100 triệu lần ổ cứng đó.

Nó đòi hỏi một niềm tin mãnh liệt để tin rằng tiến hóa xảy ra một cách ngẫu nhiên, mù quáng.

“Kiến thức về DNA đã cho thấy, bởi độ phức tạp hầu như là không thể tin được về sự sắp xếp cần thiết để có thể sản sinh ra sự sống, rằng một ý thức thông minh phải có liên quan để có thể làm cho các nguyên tố cực kì đa dạng này vận hành được.” – Antony Flew, nhà vô thần nổi tiếng người Anh.

7. Đấu tranh sinh tồn không phải là động lực chính cho tiến hóa.

Các nhà khoa học tại Đại học Bristol cho rằng “không gian sinh sống” mới chính là động lực chính.

“Các nghiên cứu mới nêu ra rằng những thay đổi lớn trong tiến hóa xảy ra khi động vật di chuyển đến một không gian sinh sống mới, chưa bị chiếm cứ bởi những động vật khác.” – BBC News

8. Cây Sự Sống của Darwin không diễn tả đúng thực tế.

“Một mô hình diễn tả sự liên kết giữa các giống loài đúng hơn nên là một bụi rậm không phải một cái cây. “Chúng ta không có bằng chứng nào chứng minh cái cây sự sống là một hiện thực.” – Eric Bapteste, nhà sinh vật học tại Đại Học Pierre and Marie Curie của Pháp.

Những thí nghiệm di truyền trên vi khuẩn, cây cối và động vật càng ngày càng tiết lộ rằng các loài khác nhau lai hợp nhiều hơn là chúng ta từng nghĩ. Có nghĩa là thay vì các giống loài chỉ đơn giản truyền thừa xuống giống nòi riêng rẽ của nó, nó còn trao đổi, lai tạp với những nhánh tiến hóa khác. Dẫn đến kết quả là một bụi rậm sự sống phức tạp hơn nhiều cái gọi là cây sự sống.

“Cây sự sống đang được chôn vùi một cách tế nhị. Điều ít được chấp nhận hơn là cái nhìn nền tảng về sinh học cần phải được thay đổi” – Michael Rose, nhà sinh học tại đại học UCI

9. Người không tiến hóa từ vượn.

Quan niệm cho rằng DNA của vượn giống DNA của người đến 99% không còn đúng nữa. Các nghiên cứu mới nhất cho thấy con số này chỉ còn 93%. Khác biệt lớn xảy ra ở cấu trúc cơ thể, não bộ, trí khôn, và hành vi….(“How Much DNA Do We Share With Chimps?” Softpedia, Nov. 20, 2006, p. 1)

[LX tổng hợp và chuyển dịch]

Một Chiếc Máy Tính Cổ Xưa?

 

Một bằng chứng khác về máy móc cổ xưa có thể được chứng kiến ở ‘Thiết Bị Antikythera’, hiện vật đã được tìm thấy tại một điểm đắm tàu cổ xưa, cách hòn đảo Antikythera của Hy Lạp không xa. Hiện vật được sản xuất ra từ đồng và được cấu tạo bởi một dãy các bánh răng ăn khớp với nhau, và chúng đã bị ăn mòn khá nhiều; thiết bị này rất đặc biệt và có thể nói là phi thường . Khi nó lần đầu tiên được phát hiện, các chuyên gia nghĩ rằng nó có thể chỉ là một loại công cụ định hướng, nhưng một cuộc điều tra chi tiết hơn đã tiết lộ rằng nó là một cái gì đó phức tạp hơn rất nhiều.

Xét nghiệm quang tuyến và X-ray cho thấy sự tồn tại của một cái bản xoay được cấu tạo từ hơn 30 bánh răng ăn khớp nhau được sắp xếp theo nhiều tầng gắn vào thiết bị, chứng minh được một mức độ tay nghề cực kì khéo léo đến từng chi tiết của một nghệ nhân làm đồng hồ. Rõ ràng đây phải là một công cụ đo đạc chính xác phức tạp khủng khiếp. Nhưng chính xác thì nó là gì?

Trên thiết bị này đã từng có những vết khắc, đáng tiếc là đã bị ăn mòn bởi nước biển, những vết khắc này liên dẫn tới những vị trí hoàng đạo với một độ chính xác cao, mà ngoài sự hoàn hảo trong việc ttạo ra nó, điều này thì phải liên quan tới một trình độ thiên văn chuyên sâu đáng nể. Nó có nhiều nét giống với những công cụ thiên văn đã được biết, rất có thể nó là một loại ‘thiên bàn’ (astrolabe) cao cấp, một thiết bị định hướng, tính thời gian thiên văn dùng để xác định và đo lường vị trí quanh năm của các vì sao và hành tinh.

 

 

 

Câu đố chưa chấm dứt tại đây, vụ đắm tàu, nơi mà thiết bị này đã được vớt lên, đã xảy ra vào khoảng thời gian gần 100 năm trước công nguyên, và trước đây thì người ta nghĩ rằng trình độ kĩ nghệ tinh xảo này hoàn toàn chưa được biết trước giữa thế kỉ 16. Chưa có một hiện vật nào đạt tới mức độ tinh vi này đã từng được phát hiện trong những vụ đắm tàu trước đây và sau này. Ngay cả những cái thiên bàn từng được vớt lên một thiên niên kỉ sau này cũng chỉ rất đơn giản khi so sánh như sơ đồ sau (hình 28b).

Hình 28b

 

Thiết Bị Antikythera bản chất của nó thật sự là một câu đố hóc búa, nhưng một mặt hấp dẫn khác của vấn đề là: Để một độ chuẩn xác như máy thế này có thể tồn tại, nó có nghĩa là phải có những cỗ máy với cùng mức độ tinh vi để làm ra nó, nhưng chúng ta không có một lưu trữ nào về một cỗ máy như vậy đã từng tồn tại, và không có gợi ý nào về một khả năng như vậy đã từng được tìm thấy, vậy thì ai đã tạo ra nó – và như thế nào?

16. Các dụng cụ thủ công hiện đại thời đồ đá

Bạn có biết mất bao lâu để cho một vật hóa thạch? Chúng ta được bảo rằng quá trình đó mất đến nhiều triệu năm. Vào năm 1786, một nhóm công nhân khai thác đá vôi đã hết sức ngạc nhiên khi tình cờ phát hiện ra những cổ vật nằm bên dưới lớp đất cát khoảng 15 mét.

Dưới những tầng đất cát họ tìm thấy những chân cột đá và những mảnh đá được đục đẽo dang dở, sau khi đào xuống thêm họ phát hiện ra những đồng tiền, những cây búa gỗ hóa thạch và những dụng cụ thủ công bằng gỗ hóa thạch khác. Lớp cát được phát hiện nằm bên dưới một lớp đá vôi được ước tính ít nhất là 300 triệu năm tuổi, và gần đây việc khám phá những dụng cụ hóa thạch vẫn thường xuyên xảy ra.

Có một cây búa cầm tay được tìm thấy trong một khối đá 100 triệu năm gần London nước Anh,  tìm kiếm này đặc biệt là bởi vì dù mặt ngoài của cán búa đã bị hóa thạch, bên trong của nó đã được kiểm định là có chứa một lượng than xốp (porous coal). Đây là một điều hết sức quan trọng và ý nghĩa bởi vì không có kỹ thuật khoa học nào có thể lý giải được điều này. Lý do: tiến trình hóa thạch xảy ra khi gỗ hay vật thể có hất hữu cơ được chôn dưới bùn, trong quá trình diễn ra, silicat (silicate) thấm sâu vào vật thể và phân hủy nó, rồi từ từ thay thế cho oxy và hydro dẫn đến hóa thạch. Mặt khác, than đá được hình thành bởi gỗ đã bị cháy và sau đó bị nén dưới đất rất lâu. Hai quá trình không khác nhau nhiều, nhưng trong trường hợp này, mỗi quá trình chắc hẳn phải xảy ra đồng thời cùng một lúc hoặc liên tiếp nhau trong một khoảng thời gian rất ngắn. Đối với khoa học thì sao? họ vẫn không thể làm ra gỗ hóa thạch chứa than bên trong với các phương pháp hiện đại. Điều này hoàn toàn phủ nhận khả năng hiện vật này là giả.

17. Một Dấu Tay Hóa Thạch

Chúng ta lại còn có thêm một phát hiện ‘không thể có được’ đáng kinh ngạc về một dấu tay trọn vẹn đã hóa thạch; nó tương ứng một cách hoàn hảo với một bàn tay con người. Dấu tay này đã được tìm thấy trong lớp đá vôi tại Glen Rose. Vết hóa thạch hiển thị một mức độ chi tiết đáng kể, ngay cả dấu vân tay của ngón cái. Bạn có hiểu được rằng để cho một vật gì đó hóa thạch mất bao lâu không?

Vết hóa thạch này đơn giản là không nên tồn tại, không thể tồn tại, bởi vì lớp đá vôi nơi dấu tay được tìm thấy đã được giám định là thuộc giai đoạn giữa của Kỉ Phấn Trắng (Middle Cretaceous) vào khoảng 110 triệu năm trước đây.

Công Nghệ Nano Cổ Xưa?

Đây là những hiện vật nhỏ bé không thể hiểu hay giải thích được, những hiện vật gây chú ý này được tìm thấy từ giữa năm 1991 – 1993 bởi một nhóm đãi vàng ở dòng sông Narada nằm phía đông triền núi Uval của nước Nga. Khác xa với vàng, cái mà họ đã tìm thấy là những vật thể rất lạ thường có dạng xoắn, cái nhỏ nhất có kích thước …. 1/10.000 đơn vị inch.

Nếu chỉ xem sét sơ qua, những vật thể này có hình dạng như những con sò nhỏ hay những loài giáp xác (tôm, cua). Nhưng qua phân tích, họ đã chứng minh được chúng là một cái gì đó hoàn toàn khác biệt.  Phòng thí nghiệm đã kiểm tra và tiết lộ rằng những loại vật thể lạ thường này là một dạng hợp kẽm đồng và kim loại hiếm vonfam (tungsten) và molybdenum, dẫu cho chúng có là cái quái gì đi nữa, chúng được sử dụng cho cái gì? Hay ai đã tạo ra chúng thì vẫn còn tuyệt đối là một bí ẩn.

Những vật thể này được kiểm tra, tính toán kỹ hơn cho biết chúng có độ tuổi ở vào khoảng 20,000 – 318,000 năm!

Bu-gi 500.000 Năm Tuổi

Một vật khác được xem là kì lạ ngang ngửa được tìm thấy vào năm 1961. Những chủ nhân cửa hàng lưu niệm ở Olancha, California thu được một món đồ trông có vẻ như một tinh hốc (geodes) đã hóa thạch thông thường trong khi tìm kiếm trong dãy núi Coso. Thật quá đỗi ngạc nhiên khi họ cắt tinh hốc hóa thạch ra làm đôi với lưỡi cưa kim cương, thay vì là một bộ sưu tập thạch anh như họ nghĩ, họ đã tìm thấy một vật thể rõ ràng là nhân tạo bên trong.

Vật thể có một lõi kim loại được phủ những lớp chất như đất sét và lớp áo gỗ lục giác (nay đã hóa thạch). Điều ngạc nhiên hơn cả là khi được chụp X-quang thì vật này trông rất giống với bugi hiện đại hay một loại bộ phận điện tử. Giữa chúng có quá nhiều nét tương đồng rõ rệt để có thể bỏ qua không chú ý. 

Vấn đề thực tế ở đây là vật thể này được tìm thấy nằm bên trong tinh hốc có lớp vỏ hóa thạch được ước lượng khoảng 500.000 năm tuổi.

Chủ nhân cuối cùng được biết đến của bộ cổ vật Coso đầy hấp dẫn là một trong những người ban đầu đã khám phá ra nó, ông Wallace Lane. Lane giữ những cổ vật tại nhà nhưng ông dứt khoát từ chối trưng bày cho mọi người xem suốt những năm sau đó. Mọi người nghĩ rằng Wallace đã mất và hiện giờ không ai biết được những cổ vật không may nằm ở đâu.

 

Những Viên Đá Ica

Không nghi ngờ gì một trong những bí ẩn lớn nhất khác trong ngành khảo cổ học xoay quanh bộ sưu tập 15.000 hiện vật được tìm thấy ở Peru năm 1960. Tương tự như những đường thẳng Nazca, tôi đang nói đến bộ sưu tập những kí tượng được khắc họa trên đá, tổng cộng chúng đã tạo thành một bộ sưu tập “thư viện đá” mà ngày nay được biết đến như những viên đá Ica. Những khung cảnh lạ thường được miêu tả bằng các chạm khắc chi tiết trên những viên đá trông có như đã có từ thời tiền-Columbia và chỉ lượng số đá ấy thôi cũng là một điều đáng kinh ngạc. Nhưng còn có một câu chuyện khá hấp dẫn xoay quanh những viên đá bí ẩn này.

Những viên đá được một người nông dân địa phương tìm thấy trong một cái hang tại một nơi được gọi là Ica, cách Lima khoảng 300km. Người nông dân này xác nhận là ông đã tìm thấy những hòn đá được chất chồng ở nhiều hang khác nhau, và những hẽm hóc trong khu vực. Một số viên đá nằm rải rác trên mặt đất và cả dưới mặt đất. Lúc đầu ông chỉ lấy một vài túi đá, nhưng sau đó đã trở lại để lấy thêm hàng ngàn viên đá khác nữa và trong khoảng một thời gian cuộc sống của ông được cải thiện rõ rệt nhờ vào việc bán những viên đá cho du khách ở gian hàng triển lãm.

Thời gian đó tiếng tăm của người nông dân bắt đầu được đồn thổi lên trong vùng và tin tức về việc này đã bắt đầu lan truyền tới tai của các cộng đồng khảo cổ. Nhiều chuyên gia đã bắt đầu đi xuống khu vực để nghiên cứu giá trị của những viên đá. Một cách tự nhiên, sự hiếu kỳ nhanh chóng gây chú ý đến chính phủ Peru. Họ e rằng Peru sẽ trở thành một Ai Cập thứ hai và sớm bị tàn phá bởi những tên đào bới, cướp bóc. Ngay lập tức họ ra lệnh bắt giữ người nông dân để tiến hành điều tra vụ việc.

Những gì họ đã nói với người nông dân lúc thẩm tra thật sự không ai biết. Nhưng ngay sau khi ông được thả ra ông đã tự tay viết rằng toàn bộ sưu tập đá là một trò lừa đảo, rằng ông đã tự tay khắc hình lên đá để đánh lừa du khách để kiếm tiền, không lường trước được sự việc sẽ đi quá xa.

Nhưng câu chuyện không phải chỉ có bấy nhiêu.

Vào năm 1966 một nhà vật lý học của thành phố, tiến sĩ Javier Cabrera nhận được một viên đá như một món quà sinh nhật từ một người dân địa phương. Trước đó ông đã biết đến câu chuyện lạ thường này, ông để ý rằng không những nó thật sự trông y như một viên đá cổ, nhưng điều thật sự làm ông thích thú là sự kiện hòn đá đã khắc họa chính xác một loại cá tuyệt chủng thời tiền sử. Người nông dân bị nghi ngờ hoàn toàn không được dạy dỗ thậm chí là ông không hề biết đọc. Quả thật, đây là một câu đố với vị tiến sĩ, làm sao mà một người nông dân có thể có đầy đủ một kiến thức về bản thể học để có thể vẽ ra một cách chính xác các kết cấu đúng để chạm trổ một loại sinh vật biển tuyệt chủng?

Thú vị hơn nữa, Tiến Sĩ Cabrera đã đến gặp người nông dân và nhanh chóng trở thành người mua hàng chính những viên đá khắc, có vẻ như người nông dân hầu như có được một nguồn cung cấp vô tận. Tiến sĩ bắt đầu lập ra một thư viện đá được sắp xếp theo từng chủ đề, bao gồm: các chủng tộc loài người, động vật cổ xưa, những lục địa đã mất, thảm họa toàn cầu. Tiến sĩ đã nhiều lần đặt câu hỏi với người nông dân về nguồn gốc của những viên đá, nhưng ông sợ bị bắt và tống giam suốt đời. Ông vẫn giữ thái độ tránh né và khăng khăng khẳng định rằng chính ông là người đã khắc lên những viên đá đó. (Cần phải hiểu rằng việc di dời và buôn bán cổ vật mang một hình phạt nặng nề theo luật pháp quốc tế, một sự kiện có thể giải thích việc người nông dân đột ngột thay đổi thái độ khi ông bị bắt).

Càng ngày người nông dân càng sản xuất đá nhiều hơn để bán, sau khi mua hàng ngàn viên đá ấy, Tiến Sĩ cảm thấy như mình trở thành con mồi và bắt đầu nghĩ rằng biết đâu được người nông dân đã tự tạo ra những viên đá đó. Ông bắt đầu thúc ép người nông dân nói ra phương pháp ông dùng để khắc đá, nhưng ông vẫn tiếp tục lảng tránh và từ chối thảo luận về cách thức khắc đá.

Sau một thời gian vị tiến sĩ lập luận rằng một cách hợp lý, với số lượng đá nhiều như vậy trong bộ sưu tập, nếu người nông dân thật sự đã khắc chúng thì anh ta đã phải khắc viên đầu tiên lúc anh ta được 2 tuổi và tiếp tục khắc mỗi ngày cho đến khi anh ta hơn 40 tuổi để sản xuất ra toàn bộ số lượng đá. Không cần phải suy luận nhiều khi hiển nhiên đó là điều không thể xảy ra. Vì thế Tiến Sĩ Cabrera đã quyết chí tìm cho ra câu trả lời về những viên đá Ica dựa trên nghiên cứu về những nét vẽ trên đá.

Những viên đá khắc có đủ loại kích cỡ: Một số thì vừa với lòng bàn tay, số khác thì lớn bằng kích cỡ của một con chó loại trung và phần còn lại nằm trong khoảng giữa hai loại trên. Mỗi một viên đá khắc một hình ảnh trên mặt đá bằng những đường liên tiếp, chúng không phải là những đường nét được cắt đi cắt lại nhiều lần. Theo địa chất học, những viên đá này là một dạng đá andesit (andesite), một loại đá núi rất cứng, có đủ loại màu sắc, từ xám ngả sang đen, và rất khó cho việc khắc bằng dụng cụ cầm tay. (Andesit xuất hiện từ nhiều dạng – than đá cũng là một dáng andesit).

Đáng chú ý là những đường khắc để lộ ra một lớp màu khác với bề mặt phủ bóng (patina) bên ngoài mặt đá và những đường rãnh được khắc cũng để lộ những dấu hiệu của một lớp phủ bóng, cho thấy những vết khắc này đã được tạo ra cách đấy rất lâu. Tuy nhiên vết phủ bóng cũng có thể là giả mạo, vì vậy một trong những viên đá ấy được gởi đến phòng thí nghiệm ở Đức để kiểm tra. Ở đó họ sẽ xác minh được cả lớp phủ bóng bề mặt lẫn các đường rãnh có vẻ như đã được khắc lên từ rất xa xưa.

Để giải thích ngắn gọn về ngày tuổi của viên đá khắc: Niên định phóng xạ carbon (Radiocarbon dating), thông thường cách này chỉ sử dụng cho đồ gốm hay tượng đất sét, không thể sử dụng trên đá. Bởi vì đá không chứa chất hữu cơ, tuy nhiên bề mặt của đá được phủ một lớp véc ni, dầu bóng, nó là kết quả của vi khuẩn và những vi sinh vật nhỏ bé khác bám vào theo thời gian. Đá cổ có một lớp véc ni phủ dày được hiểu như lớp phủ bóng đã đề cập. Một lớp phủ bóng chắc, bền trải qua hàng ngàn năm trở nên đậm màu, mất màu và cuối cùng hình thành nên một lớp phủ rắn chắc trên mỗi viên đá. Việc khắc lên mỗi viên đá thường xóa đi lớp phủ bóng. Tuy nhiên, trên đá Ica thì lớp phủ bóng xuất hiện bên trong mỗi đường rãnh khắc mà cho thấy việc khắc là được làm cách đây rất lâu. Một thời gian tối thiểu để cho lớp véc ni tái tạo trở lại.

Nhiều cảnh tượng được vẽ lên những viên đá Ica đã gây sự kinh ngạc tột bậc . Hầu như là vượt quá sự hiểu biết của người nông dân không có kiến thức ở một ngôi làng nhỏ của người Peru.

Có vài viên đá khắc họa về mã di truyền và sự kéo dài tuổi thọ, một số khác khắc học những đường vân máu được nối lại theo những ống hút (re-absorption tubes). Có một viên đá khắc họa một cảnh phẩu thuật Cesar, gây tê bằng châm cứu. Có nhiều viên đá vẽ rõ ràng những người đang cưỡi khủng long, và loài bò sát bay.

Có những viên đá vẽ người địa phương đang mang vương miện cao và áo choàng dài mang dáng dấp của người Inca trong lúc thực hiện việc chữa bệnh cho bệnh nhân. Một vài bức vẽ việc cấy ghép não bộ và trái tim. Những viên đá khác cho thấy những người đàn ông sử dụng kính thiên văn để xem sao chổi đang rơi. Có một chuỗi 4 viên đá cho thấy 4 bán cầu của trái đất và những nghiên cứu cho thấy tất cả đều chính xác. Trừ ra một cái cho thấy có thêm một lục địa đã từng tồn tại nhưng không còn.

Thật thú vị khi những lục địa đã mất là đề tài thường xuyên được đề cập từ quá nhiều câu chuyện huyền thoại cổ xưa như thế.

Một viên đá khác rất thú vị vẽ ra chính xác hơn những đường thẳng trên đồng bằng Nazca. Thậm chí những đường thẳng chỉ có thể được quan sát từ trên không. Thật khó mà tin rằng có một sự chạm khắc chính xác đến vậy đã được thực hiện bởi một người nông dân trong làng.

Tiến sĩ Cabrera sớm kết luận rằng người nông dân không thể tự chạm khắc tất cả những viên đá kia, đơn giản là ông ta không có thời gian, không có những kỹ năng cần thiết, hay có kiến thức về khoa học và thực vật học bắt buộc để vẽ ra được một viên đá. Sau một thời gian và sau khi mua bán khoảng 11.000 viên đá thì Tiến Sĩ đã bắt đầu được tin cậy hơn từ người bạn nông dân của mình.

Tiến sĩ đã hiểu được rằng người nông dân sẽ được phóng thích khỏi nhà tù chỉ khi ông ta chấp nhận viết một bản thừa nhận có kí tên về việc lừa đảo du khách. Ông ta phải đồng ý nói rằng những viên đá không được tìm thấy từ những ngọn đồi mà là do chính ông ta đã chạm khắc. Hoặc là viết như vậy, hoặc là anh ta sẽ bóc lịch suốt phần đời còn lại vì tội đánh cắp và buôn bán những viên đá cổ.

Tiến sĩ Cabrera tiếp tục nỗ lực nghiên cứu làm sáng tỏ những bản đồ vẽ trên những viên đá, thậm chí còn làm việc với một số nhà địa chất chuyên môn. Vài viên đá khắc trông như bản đồ thế giới, chỉ có điều là với những hình dạng kì lạ. Vài góc độ, và mảng đất trông rất quen thuộc. Nhưng đa phần các lục địa đều mang một hình dạng khó nhận ra. Tuy nhiên sau khi những nhà địa chất nghiên cứu sâu hơn đã xác nhận dựa trên kết quả hiện tại của máy tính, các lục địa được vẽ trên viên đá đích thực là Trái Đất cách đây khoảng 13 triệu năm, trước thời đồ đá. Vài viên đá chính xác vẽ ra những biểu đồ tinh tú thời xa xưa.

Trở lại với những câu hỏi lớn còn để ngỏ, làm thế nào mà bất kì một người không có kiến thức khoa học thời nay biết rằng bầu trời trông như thế nào từ mặt đất, và mặt đất trông như thế nào từ bầu trời cách đây khoảng 13 triệu năm trước, nói chi đến một người nông dân đơn độc không trình độ ở Peru năm 1960?

Vài người nông dân ở địa phương đã mê muội trước những gì các viên đá danh tiếng này có thể mang lại, đã bắt đầu tự chế tác và bán ra những viên đá giả mạo cho những du khách cả tin, vì thế nên những viên đá xuất hiện sau này ở khu vực trở thành một mối khả nghi lớn. Tuy nhiên chúng ta không thể phủ nhận được về độ thực của những viên đá lúc đầu. Ai là người đã tạo ra chúng có lẽ sẽ luôn là một điều bí ẩn. Nhưng độ chi tiết và chính xác của một bộ sưu tập 15 ngàn viên đá thật sự là một trong những điều bí ẩn nhất và huyền bí lôi cuốn nhất của Nam Mĩ.