Tag Archive: bản đồ


Một Chiếc Máy Tính Cổ Xưa?

 

Một bằng chứng khác về máy móc cổ xưa có thể được chứng kiến ở ‘Thiết Bị Antikythera’, hiện vật đã được tìm thấy tại một điểm đắm tàu cổ xưa, cách hòn đảo Antikythera của Hy Lạp không xa. Hiện vật được sản xuất ra từ đồng và được cấu tạo bởi một dãy các bánh răng ăn khớp với nhau, và chúng đã bị ăn mòn khá nhiều; thiết bị này rất đặc biệt và có thể nói là phi thường . Khi nó lần đầu tiên được phát hiện, các chuyên gia nghĩ rằng nó có thể chỉ là một loại công cụ định hướng, nhưng một cuộc điều tra chi tiết hơn đã tiết lộ rằng nó là một cái gì đó phức tạp hơn rất nhiều.

Xét nghiệm quang tuyến và X-ray cho thấy sự tồn tại của một cái bản xoay được cấu tạo từ hơn 30 bánh răng ăn khớp nhau được sắp xếp theo nhiều tầng gắn vào thiết bị, chứng minh được một mức độ tay nghề cực kì khéo léo đến từng chi tiết của một nghệ nhân làm đồng hồ. Rõ ràng đây phải là một công cụ đo đạc chính xác phức tạp khủng khiếp. Nhưng chính xác thì nó là gì?

Trên thiết bị này đã từng có những vết khắc, đáng tiếc là đã bị ăn mòn bởi nước biển, những vết khắc này liên dẫn tới những vị trí hoàng đạo với một độ chính xác cao, mà ngoài sự hoàn hảo trong việc ttạo ra nó, điều này thì phải liên quan tới một trình độ thiên văn chuyên sâu đáng nể. Nó có nhiều nét giống với những công cụ thiên văn đã được biết, rất có thể nó là một loại ‘thiên bàn’ (astrolabe) cao cấp, một thiết bị định hướng, tính thời gian thiên văn dùng để xác định và đo lường vị trí quanh năm của các vì sao và hành tinh.

 

 

 

Câu đố chưa chấm dứt tại đây, vụ đắm tàu, nơi mà thiết bị này đã được vớt lên, đã xảy ra vào khoảng thời gian gần 100 năm trước công nguyên, và trước đây thì người ta nghĩ rằng trình độ kĩ nghệ tinh xảo này hoàn toàn chưa được biết trước giữa thế kỉ 16. Chưa có một hiện vật nào đạt tới mức độ tinh vi này đã từng được phát hiện trong những vụ đắm tàu trước đây và sau này. Ngay cả những cái thiên bàn từng được vớt lên một thiên niên kỉ sau này cũng chỉ rất đơn giản khi so sánh như sơ đồ sau (hình 28b).

Hình 28b

 

Thiết Bị Antikythera bản chất của nó thật sự là một câu đố hóc búa, nhưng một mặt hấp dẫn khác của vấn đề là: Để một độ chuẩn xác như máy thế này có thể tồn tại, nó có nghĩa là phải có những cỗ máy với cùng mức độ tinh vi để làm ra nó, nhưng chúng ta không có một lưu trữ nào về một cỗ máy như vậy đã từng tồn tại, và không có gợi ý nào về một khả năng như vậy đã từng được tìm thấy, vậy thì ai đã tạo ra nó – và như thế nào?

Advertisements

Những Viên Đá Ica

Không nghi ngờ gì một trong những bí ẩn lớn nhất khác trong ngành khảo cổ học xoay quanh bộ sưu tập 15.000 hiện vật được tìm thấy ở Peru năm 1960. Tương tự như những đường thẳng Nazca, tôi đang nói đến bộ sưu tập những kí tượng được khắc họa trên đá, tổng cộng chúng đã tạo thành một bộ sưu tập “thư viện đá” mà ngày nay được biết đến như những viên đá Ica. Những khung cảnh lạ thường được miêu tả bằng các chạm khắc chi tiết trên những viên đá trông có như đã có từ thời tiền-Columbia và chỉ lượng số đá ấy thôi cũng là một điều đáng kinh ngạc. Nhưng còn có một câu chuyện khá hấp dẫn xoay quanh những viên đá bí ẩn này.

Những viên đá được một người nông dân địa phương tìm thấy trong một cái hang tại một nơi được gọi là Ica, cách Lima khoảng 300km. Người nông dân này xác nhận là ông đã tìm thấy những hòn đá được chất chồng ở nhiều hang khác nhau, và những hẽm hóc trong khu vực. Một số viên đá nằm rải rác trên mặt đất và cả dưới mặt đất. Lúc đầu ông chỉ lấy một vài túi đá, nhưng sau đó đã trở lại để lấy thêm hàng ngàn viên đá khác nữa và trong khoảng một thời gian cuộc sống của ông được cải thiện rõ rệt nhờ vào việc bán những viên đá cho du khách ở gian hàng triển lãm.

Thời gian đó tiếng tăm của người nông dân bắt đầu được đồn thổi lên trong vùng và tin tức về việc này đã bắt đầu lan truyền tới tai của các cộng đồng khảo cổ. Nhiều chuyên gia đã bắt đầu đi xuống khu vực để nghiên cứu giá trị của những viên đá. Một cách tự nhiên, sự hiếu kỳ nhanh chóng gây chú ý đến chính phủ Peru. Họ e rằng Peru sẽ trở thành một Ai Cập thứ hai và sớm bị tàn phá bởi những tên đào bới, cướp bóc. Ngay lập tức họ ra lệnh bắt giữ người nông dân để tiến hành điều tra vụ việc.

Những gì họ đã nói với người nông dân lúc thẩm tra thật sự không ai biết. Nhưng ngay sau khi ông được thả ra ông đã tự tay viết rằng toàn bộ sưu tập đá là một trò lừa đảo, rằng ông đã tự tay khắc hình lên đá để đánh lừa du khách để kiếm tiền, không lường trước được sự việc sẽ đi quá xa.

Nhưng câu chuyện không phải chỉ có bấy nhiêu.

Vào năm 1966 một nhà vật lý học của thành phố, tiến sĩ Javier Cabrera nhận được một viên đá như một món quà sinh nhật từ một người dân địa phương. Trước đó ông đã biết đến câu chuyện lạ thường này, ông để ý rằng không những nó thật sự trông y như một viên đá cổ, nhưng điều thật sự làm ông thích thú là sự kiện hòn đá đã khắc họa chính xác một loại cá tuyệt chủng thời tiền sử. Người nông dân bị nghi ngờ hoàn toàn không được dạy dỗ thậm chí là ông không hề biết đọc. Quả thật, đây là một câu đố với vị tiến sĩ, làm sao mà một người nông dân có thể có đầy đủ một kiến thức về bản thể học để có thể vẽ ra một cách chính xác các kết cấu đúng để chạm trổ một loại sinh vật biển tuyệt chủng?

Thú vị hơn nữa, Tiến Sĩ Cabrera đã đến gặp người nông dân và nhanh chóng trở thành người mua hàng chính những viên đá khắc, có vẻ như người nông dân hầu như có được một nguồn cung cấp vô tận. Tiến sĩ bắt đầu lập ra một thư viện đá được sắp xếp theo từng chủ đề, bao gồm: các chủng tộc loài người, động vật cổ xưa, những lục địa đã mất, thảm họa toàn cầu. Tiến sĩ đã nhiều lần đặt câu hỏi với người nông dân về nguồn gốc của những viên đá, nhưng ông sợ bị bắt và tống giam suốt đời. Ông vẫn giữ thái độ tránh né và khăng khăng khẳng định rằng chính ông là người đã khắc lên những viên đá đó. (Cần phải hiểu rằng việc di dời và buôn bán cổ vật mang một hình phạt nặng nề theo luật pháp quốc tế, một sự kiện có thể giải thích việc người nông dân đột ngột thay đổi thái độ khi ông bị bắt).

Càng ngày người nông dân càng sản xuất đá nhiều hơn để bán, sau khi mua hàng ngàn viên đá ấy, Tiến Sĩ cảm thấy như mình trở thành con mồi và bắt đầu nghĩ rằng biết đâu được người nông dân đã tự tạo ra những viên đá đó. Ông bắt đầu thúc ép người nông dân nói ra phương pháp ông dùng để khắc đá, nhưng ông vẫn tiếp tục lảng tránh và từ chối thảo luận về cách thức khắc đá.

Sau một thời gian vị tiến sĩ lập luận rằng một cách hợp lý, với số lượng đá nhiều như vậy trong bộ sưu tập, nếu người nông dân thật sự đã khắc chúng thì anh ta đã phải khắc viên đầu tiên lúc anh ta được 2 tuổi và tiếp tục khắc mỗi ngày cho đến khi anh ta hơn 40 tuổi để sản xuất ra toàn bộ số lượng đá. Không cần phải suy luận nhiều khi hiển nhiên đó là điều không thể xảy ra. Vì thế Tiến Sĩ Cabrera đã quyết chí tìm cho ra câu trả lời về những viên đá Ica dựa trên nghiên cứu về những nét vẽ trên đá.

Những viên đá khắc có đủ loại kích cỡ: Một số thì vừa với lòng bàn tay, số khác thì lớn bằng kích cỡ của một con chó loại trung và phần còn lại nằm trong khoảng giữa hai loại trên. Mỗi một viên đá khắc một hình ảnh trên mặt đá bằng những đường liên tiếp, chúng không phải là những đường nét được cắt đi cắt lại nhiều lần. Theo địa chất học, những viên đá này là một dạng đá andesit (andesite), một loại đá núi rất cứng, có đủ loại màu sắc, từ xám ngả sang đen, và rất khó cho việc khắc bằng dụng cụ cầm tay. (Andesit xuất hiện từ nhiều dạng – than đá cũng là một dáng andesit).

Đáng chú ý là những đường khắc để lộ ra một lớp màu khác với bề mặt phủ bóng (patina) bên ngoài mặt đá và những đường rãnh được khắc cũng để lộ những dấu hiệu của một lớp phủ bóng, cho thấy những vết khắc này đã được tạo ra cách đấy rất lâu. Tuy nhiên vết phủ bóng cũng có thể là giả mạo, vì vậy một trong những viên đá ấy được gởi đến phòng thí nghiệm ở Đức để kiểm tra. Ở đó họ sẽ xác minh được cả lớp phủ bóng bề mặt lẫn các đường rãnh có vẻ như đã được khắc lên từ rất xa xưa.

Để giải thích ngắn gọn về ngày tuổi của viên đá khắc: Niên định phóng xạ carbon (Radiocarbon dating), thông thường cách này chỉ sử dụng cho đồ gốm hay tượng đất sét, không thể sử dụng trên đá. Bởi vì đá không chứa chất hữu cơ, tuy nhiên bề mặt của đá được phủ một lớp véc ni, dầu bóng, nó là kết quả của vi khuẩn và những vi sinh vật nhỏ bé khác bám vào theo thời gian. Đá cổ có một lớp véc ni phủ dày được hiểu như lớp phủ bóng đã đề cập. Một lớp phủ bóng chắc, bền trải qua hàng ngàn năm trở nên đậm màu, mất màu và cuối cùng hình thành nên một lớp phủ rắn chắc trên mỗi viên đá. Việc khắc lên mỗi viên đá thường xóa đi lớp phủ bóng. Tuy nhiên, trên đá Ica thì lớp phủ bóng xuất hiện bên trong mỗi đường rãnh khắc mà cho thấy việc khắc là được làm cách đây rất lâu. Một thời gian tối thiểu để cho lớp véc ni tái tạo trở lại.

Nhiều cảnh tượng được vẽ lên những viên đá Ica đã gây sự kinh ngạc tột bậc . Hầu như là vượt quá sự hiểu biết của người nông dân không có kiến thức ở một ngôi làng nhỏ của người Peru.

Có vài viên đá khắc họa về mã di truyền và sự kéo dài tuổi thọ, một số khác khắc học những đường vân máu được nối lại theo những ống hút (re-absorption tubes). Có một viên đá khắc họa một cảnh phẩu thuật Cesar, gây tê bằng châm cứu. Có nhiều viên đá vẽ rõ ràng những người đang cưỡi khủng long, và loài bò sát bay.

Có những viên đá vẽ người địa phương đang mang vương miện cao và áo choàng dài mang dáng dấp của người Inca trong lúc thực hiện việc chữa bệnh cho bệnh nhân. Một vài bức vẽ việc cấy ghép não bộ và trái tim. Những viên đá khác cho thấy những người đàn ông sử dụng kính thiên văn để xem sao chổi đang rơi. Có một chuỗi 4 viên đá cho thấy 4 bán cầu của trái đất và những nghiên cứu cho thấy tất cả đều chính xác. Trừ ra một cái cho thấy có thêm một lục địa đã từng tồn tại nhưng không còn.

Thật thú vị khi những lục địa đã mất là đề tài thường xuyên được đề cập từ quá nhiều câu chuyện huyền thoại cổ xưa như thế.

Một viên đá khác rất thú vị vẽ ra chính xác hơn những đường thẳng trên đồng bằng Nazca. Thậm chí những đường thẳng chỉ có thể được quan sát từ trên không. Thật khó mà tin rằng có một sự chạm khắc chính xác đến vậy đã được thực hiện bởi một người nông dân trong làng.

Tiến sĩ Cabrera sớm kết luận rằng người nông dân không thể tự chạm khắc tất cả những viên đá kia, đơn giản là ông ta không có thời gian, không có những kỹ năng cần thiết, hay có kiến thức về khoa học và thực vật học bắt buộc để vẽ ra được một viên đá. Sau một thời gian và sau khi mua bán khoảng 11.000 viên đá thì Tiến Sĩ đã bắt đầu được tin cậy hơn từ người bạn nông dân của mình.

Tiến sĩ đã hiểu được rằng người nông dân sẽ được phóng thích khỏi nhà tù chỉ khi ông ta chấp nhận viết một bản thừa nhận có kí tên về việc lừa đảo du khách. Ông ta phải đồng ý nói rằng những viên đá không được tìm thấy từ những ngọn đồi mà là do chính ông ta đã chạm khắc. Hoặc là viết như vậy, hoặc là anh ta sẽ bóc lịch suốt phần đời còn lại vì tội đánh cắp và buôn bán những viên đá cổ.

Tiến sĩ Cabrera tiếp tục nỗ lực nghiên cứu làm sáng tỏ những bản đồ vẽ trên những viên đá, thậm chí còn làm việc với một số nhà địa chất chuyên môn. Vài viên đá khắc trông như bản đồ thế giới, chỉ có điều là với những hình dạng kì lạ. Vài góc độ, và mảng đất trông rất quen thuộc. Nhưng đa phần các lục địa đều mang một hình dạng khó nhận ra. Tuy nhiên sau khi những nhà địa chất nghiên cứu sâu hơn đã xác nhận dựa trên kết quả hiện tại của máy tính, các lục địa được vẽ trên viên đá đích thực là Trái Đất cách đây khoảng 13 triệu năm, trước thời đồ đá. Vài viên đá chính xác vẽ ra những biểu đồ tinh tú thời xa xưa.

Trở lại với những câu hỏi lớn còn để ngỏ, làm thế nào mà bất kì một người không có kiến thức khoa học thời nay biết rằng bầu trời trông như thế nào từ mặt đất, và mặt đất trông như thế nào từ bầu trời cách đây khoảng 13 triệu năm trước, nói chi đến một người nông dân đơn độc không trình độ ở Peru năm 1960?

Vài người nông dân ở địa phương đã mê muội trước những gì các viên đá danh tiếng này có thể mang lại, đã bắt đầu tự chế tác và bán ra những viên đá giả mạo cho những du khách cả tin, vì thế nên những viên đá xuất hiện sau này ở khu vực trở thành một mối khả nghi lớn. Tuy nhiên chúng ta không thể phủ nhận được về độ thực của những viên đá lúc đầu. Ai là người đã tạo ra chúng có lẽ sẽ luôn là một điều bí ẩn. Nhưng độ chi tiết và chính xác của một bộ sưu tập 15 ngàn viên đá thật sự là một trong những điều bí ẩn nhất và huyền bí lôi cuốn nhất của Nam Mĩ.

Bản đồ Buache, 1737

Phillippe Buache là một nhà địa lý Pháp của thế kỷ 18, ông đã vẽ một bản đồ cho thấy rõ ràng Nam Cực, ngoại trừ là bản đồ của Buache cho thấy Nam Cực là hai mảnh đất riêng biệt, với bờ biển chi tiết. Trong nhiều năm, bản đồ được coi là sai bởi vì khi Nam Cực được phát hiện ra nó thật sự không nhìn giống như những gì Bauche đã vẽ.

Sau đó, vào năm 1958, một cuộc khảo sát địa chấn ở Nam Cực đã được thực hiện đáng, ngạc nhiên nó cho thấy rằng Nam Cực thực sự là hai quần đảo được bao phủ bởi một lớp băng dày làm cho nó xuất hiện như là chỉ có một vùng đất rộng lớn, và không chỉ vậy địa hình chung của các vùng đất dưới lớp băng còn giống với bản vẽ trên bản đồ Buache đến từng chi tiết. Làm thế quái nào mà chuyện này có thể xảy ra? Tấm bản đồ này có nghĩa rằng Buache đã từng sở hữu một bản đồ chính xác cho thấy Nam Cực 100 năm trước khi nó được phát hiện, và không chỉ vậy, khi nó còn không có bất kỳ băng tuyết nào.

Nam Cực đã không còn trong tình trạng không băng tuyết ít nhất 10.000 năm, nhiều nhà khoa học tin rằng thời điểm đó có lẽ là vài triệu năm thì đúng hơn.

Bản đồ Franco Rosselli, 1508

Franco Rosselli là nhà đồ bản nổi tiếng ở Florentine của thế kỷ 15 đã tạo ra một khắc bản đồng tương đối nhỏ nhưng có minh hoạ phong phú, được sơn màu thủ công trên giấy thuộc (giấy da bê), kích thước 6 x 11 inches (15.25 x 28 cm) . Tác phẩm được lưu giữ trong Bảo tàng Hàng hải Quốc gia Greenwich.

Tại thời điểm Rosselli tạo ra bản đồ, nó vẫn còn là một nghệ thuật thử nghiệm tương đối mới, điều này càng làm cho những tiết lộ trong bản đồ thế giới của ông thậm chí còn tuyệt vời hơn. Bản đồ mô tả về Nam Cực, nó là một công trình đòi hỏi độ chính xác cao và thậm chí nó còn đặt tên các khu vực khá cụ thể như Antarticus.

Các chi tiết trên bản đồ của Rosselli được vẽ vô cùng chính xác, và cũng như những tấm bản đồ trước đây, các đặc điểm địa lý như biển Ross và Wilkes Land đặc biệt dễ dàng để nhận dạng.

Một lần nữa, điều rắc rối về tấm bản đồ đặc biệt này là năm nó được vẽ năm 1508. Căn cứ theo lịch sử của chúng ta đây là trọn vẹn ba thế kỷ rưỡi trước khi Nam Cực được phát hiện. Và ở đây một lần nữa chúng ta có Nam Cực được mô tả chính xác trên bản đồ vào thế kỷ 15 ở Florentine.

Bản đồ Mercator, 1538

Và thậm chí còn có một bản đồ hấp dẫn khác nữa là một cái được vẽ trong năm 1538 bởi Mercator, một nhà đồ bản rất được kính trọng sống ở thế kỷ 16. Những công trình của ông khá nổi tiếng và bạn vẫn có thể mua một tập bản đồ Mercator trong các tiệm sách ngày nay. Mercator nổi tiếng với công việc cập nhật định kỳ bản đồ và sản xuất ra những tập bản đồ thế giới mới rõ ràng hơn khi những bờ biển đã được vẽ và khi ông ta có được những biểu đồ chính xác hơn. Trong khi làm một bản nâng cấp như vậy, bản đồ thế giới năm 1538 (hình 5) đã được thay thế bằng một bản mới trong năm 1569. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta biết rằng  không những tấm bản đồ năm 1538 trước đó thật sự đã chính xác hơn nhiều cái sau này, mà còn một điều tuyệt vời hơn nữa đã được chứng minh rằng nó cũng bao hàm luôn các phép đo lường kinh độ chính xác.

Hình 5

Để gom lại tất cả những gì đã được đề cập về kinh độ thành một nhận định chung: Kinh độ là khoảng cách tính bằng độ giữa một điểm phía đông hay tây tới Kinh Tuyến Gốc. Vì trái Đất xoay quanh trục, tính toán kinh độ khó hơn nhiều vĩ độ, để tính được vĩ độ thì chỉ cần xác định vị trí những ngôi sao hay quan sát mặt trời. Nhưng để tính toán kinh độ, ta cần tới công thức: ‘Khoảng cách = Vận Tốc x Thời Gian’ và quan trọng nhất là, một cái đồng hồ chính xác. Khám phá ra kinh độ đã từng một lần được xem là “vấn đề hóc búa nhất trong hải quân”, và trong những năm 1700, có một Ban Kinh Độ (Board of Longitude) ở Anh đã được thành lập để giải quyết vấn đề này . Năm 1714, Ngài Isaac Newton đã đứng trước Ban và giải thích rằng vấn đề thực sự là “một cái đồng hồ cần thiết với độ chính xác cao chưa từng được chế tạo.” Hoàng Hậu Anh sau đó liền treo giải thưởng 20,000 pounds cho bất kì ai có thể sáng chế ra được thiết bị này và cuối cùng, vào năm 1761, một người tên là Harrison đã thắng được giải với bản mẫu niên kế (chronometer) của ông, thiết bị này về sau đã mở ra một kỉ nguyên mới về ngành hàng hải cho thế giới.

Trong suốt thế kỷ 19, những tấm bản đồ đã bắt đầu được cập nhật với kinh độ chính xác. Tuy nhiên bản đồ Mercator năm 1538 được đánh dấu với kinh độ chính xác trọn 223 năm trước khi nó được phát hiện. Ông có thể có được thông tin đó từ đâu? Rõ ràng rằng Mercator đã không có kiến thức thực sự về kinh độ vào thời điểm đó và phải vay mượn hoặc nhận được thông tin từ một nguồn khác, bởi vì sau đó ông ta đã cập nhật các bản đồ tiếp theo của mình không chính xác với những thông tin được xem là mới hơn và đáng lý là phải đáng tin cậy hơn.

Các bản đồ này hợp lại thành những bằng chứng thực sự cực kì quan trọng, nếu người cổ xưa chưa bao giờ đi vòng quanh trái Đất hoặc từng sở hữu bất kỳ kiến thức về kinh độ thì làm thế nào mà bất cứ một trong những tấm bản đồ này tồn tại?

=============

Nhóm Học Giả Đường Phố chuyển dịch