Tag Archive: lịch sử


Cột Sắt Nguyên Chất Đến Hoàn Hảo

Sừng sững tại Dehli – Ấn Độ là một cây cột sắt đã ngạo nghễ thách thức các nhà luyện kim trong suốt 1600 năm qua, nó hoàn toàn không có một vết hoen gì, cho đến khi những người phương Tây khám phá ra. Chắc chắn rằng cây cột này đã đứng đấy qua ngần ấy thời gian (trong thực tế ở Ấn Độ vẫn còn nhiều cái khác) nhưng vấn đề đặt ra là, trên thực tế công nghệ để có thể tạo ra loại sắt hoàn toàn không gỉ như những cây cột này, khoa học hiện đại vẫn chưa hề được biết đến. Những cột sắt này thực sự là cơn ác mộng hay niềm khao khát của các nhà luyện kim, tuỳ vào cách nhìn của họ. Nhưng đây mới là điều thật sự thú vị: thứ duy nhất có chứa loại sắt hoàn toàn không gỉ này lại là mẩu đá được mang về từ Mặt Trăng trong hành trình của tàu Apollo!

Vậy người Ấn Độ xưa đã tìm thấy loại sắt để làm những cây cột này ở đâu “trên Trái Đất”? Bạn nghĩ ra giả thuyết nào đó hả? Hãy giữ suy nghĩ đó cho riêng mình nhé!

 

  

 

Những Quả Cầu Kim Loại 2.8 Tỷ Năm Tuổi

Trong một chuỗi những khám phá quái lạ nhất vẫn chưa kết thúc cho đến tận hôm nay, qua hơn 60 năm, những thợ mỏ Châu Phi thực sự đã đào được hàng trăm quả cầu kim loại, một số nằm khá sâu trong lòng đất. Và ít nhất một trong số chúng, có thể còn nhiều nữa, có ba đường rãnh chạy song song theo chu vi (hình 44). Có thể phân những quả cầu thanh hai loại: loại bằng kim loại đặc màu xanh với các đốm trắng bên trong, và loại ruột rỗng xốp ở giữa. Roelf Marx, người quản lý bảo tàng Klerksdorp ở Nam Phi, nơi cất giữ những quả cầu miêu tả chúng thế này: “Những quả cầu hoàn toàn bí ẩn. Trông chúng như những quả cầu nhân tạo và đã nằm trong đá từ tận cái thời mà Trái Đất chưa có loài tinh khôn nào hiện hữu. Trông chẳng giống bất cứ thứ gì tôi từng biết.”

Roelf Marx cũng viết rõ hơn trong lá thư ngày 12 tháng 9 năm 1984 rằng:

“Không có bất kỳ công bố khoa học nào về những quả cầu, nhưng sự thật là: Chúng được tìm thấy trong mỏ khoáng sản gần thị trấn Ottosdal ở phía Tây Transvaal. Khoáng vật này (Al2Si4O10(OH)2) là loại khoáng vật thứ cấp mềm độ cứng chỉ 3 Mohs, và được cấu thành nhờ quá trình lắng đọng trầm tích 2.8 tỷ năm trước. Mặt khác, những quả cầu này với cấu trúc dạng sợi bên trong cùng lớp vỏ bao bọc thực sự cứng đến nỗi không gì có thể làm xước được, kể cả thép.” (Thang độ cứng Mohs được sáng chế và đăt tên theo Friedrich Mohs, ông đã dùng mười mẫu khoáng vật làm chuẩn mực để so sánh độ cứng, mềm nhất là Talc và cứng nhất là kim cương)

 

Dù vậy, nếu sự tồn tại mông lung của những quả cầu này vẫn chưa đủ sức thuyết phục, thì một khía cạnh hết sức kinh ngạc khác lại lần nữa thu hút dư luận quan tâm, lần này người phát hiện là John Hund, khoảng 15 năm trước. Một hôm khi đang táy máy với nó trên chiếc bàn phẳng, Hund chợt nhận ra khối cầu đó cân bằng một cách đặc biệt. Ông quyết định mang nó đến Viện Nghiên Cứu Không gian Calofornia tại trường Đại học California để kiểm tra giám định chính xác nó cân bằng thế nào. Kết quả thật khó tin, quả cầu cân bằng tuyệt đối hoàn hảo.

Và độ cân bằng của quả cầu, thực sự, quá chính xác, thậm chí vượt xa trình độ công nghệ đo lường của những trạm không gian hiện đại đang chế tạo la bàn hồi chuyển (gyrocompasses) cho NASA! Thật sự, không chê vào đâu được…

Lớp đá trầm tích, nơi tìm thấy những khối cầu này, nằm ngay bên dưới lớp bề mặt nằm sâu trong hầm mỏ ước đoán đã 2.8 tỷ năm tuổi.

 

Mẩu Ngón Tay Hoá Thạch.

Một hiện vật kỳ lạ tương tự khác tồn tại một cách khó tin là mẩu hoá thạch ngón tay người. Mẩu hoá thạch được biết dưới số hiệu “DM93-083” có niên đại từ Kỷ Phấn Trắng hay cách đây khoảng 100 đến 110 triệu năm (hình 41). Phim chụp X quang của mẫu vật cho thấy một vùng loãng ít đặc hơn trong ngón tay, cho thấy sự tồn tại của tuỷ bên trong xương. Hiển thị trên hình chụp X quang là vùng tối ở giữa ngón tay.

 

Hình 41

 

Chuông Đồng Trong Than Đá

Trong một khám phá vào năm 1944 mà đến nay đã trở thành một đề tài phổ biến, người đàn ông tên Newton Anderson đã tìm thấy chiếc chuông đồng cổ kỳ lạ này trong một tảng than được khai thác gần nhà ông, tại West Virginia (hình 42). Newton vô tình đánh rơi làm vỡ tảng than để lộ ra một chiếc chuông được bao bọc bên trong. Những đợt kiểm nghiệm gắt gao cũng như phân tích toàn diện tại Đại học Oklahoma đã chỉ ra chiếc chuông chứa những kim loại đã biết, nhưng trộn lẫn trong một một hỗn hợp lạ thường, chẳng giống bất kỳ hợp kim nào chúng ta từng biết.

Hàng loạt các trường hợp phát hiện vật thể lạ trong than cũng đã được ghi nhận, kể cả câu chuyện dây chuyền vàng chạm trổ tinh xảo hay cái nồi sắt đã được nói ở trên.

 

Hình 42

 

Người Đàn Ông Rhodesia

Năm 1921, một bí ẩn kỳ lạ khác đã được khơi mào bằng một hộp sọ của người Neanderthal được tìm thấy sâu trong lòng đất 18 mét. Những thẩm định chi tiết cho thấy phần hộp sọ bên trái thái dương đã bị đâm thủng với tốc độ tương đương một viên đạn (hình. 43). Các kiểm nghiệm cho thấy vết thương dẫn đến tử vong ngay lập tức chứ không phải bởi một viên đạn lạc bắn ra nhiều năm sau đó.

Điều này có nghĩa là, chưa biết ai đã bắn ra phát đạn chí tử, nhưng chắc chắn, đó là phát đạn đã cách đây hàng nghìn năm. Dẫn lời Rene Noorbergen, một tác giả khảo cổ học: “Một toà án pháp lý tại Berlin, nước Đức đã kết luận rõ ràng rằng, vết thương trên hộp sọ người đàn ông Rhodesia chỉ có thể gây ra bởi một viên đạn.” Lỗ tròn để lại trên vết thương cũng chứng tỏ vật thể được bắn đi với vận tốc cực lớn.

 

Hình 43

 

 

Năm 1912, có hai công nhân đang cuốc than tại nhà máy điện thành phố Thomas, tiểu bang Oklahoma, và đã đập vỡ ra một khối than để bỏ vào lò, ngạc nhiên thay vào lúc đó, có một cái nồi bằng sắt bị rơi ra (hình 33). Một số chuyên gia sau đó đã kiểm tra cái nồi và  tuyên bố rằng nó là hàng thật. Dấu vết của cái nồi cũng vẫn còn có thể được thấy rõ trong khối than bao bọc nó nay đã vỡ.


Theo như Robert O. Fay của trung tâm khảo sát địa chất Oklahoma, mỏ than đá Wilburton nơi cái nồi được phát hiện được giám định là khoảng 312 triệu năm tuổi.

 

 

Một Chiếc Máy Tính Cổ Xưa?

 

Một bằng chứng khác về máy móc cổ xưa có thể được chứng kiến ở ‘Thiết Bị Antikythera’, hiện vật đã được tìm thấy tại một điểm đắm tàu cổ xưa, cách hòn đảo Antikythera của Hy Lạp không xa. Hiện vật được sản xuất ra từ đồng và được cấu tạo bởi một dãy các bánh răng ăn khớp với nhau, và chúng đã bị ăn mòn khá nhiều; thiết bị này rất đặc biệt và có thể nói là phi thường . Khi nó lần đầu tiên được phát hiện, các chuyên gia nghĩ rằng nó có thể chỉ là một loại công cụ định hướng, nhưng một cuộc điều tra chi tiết hơn đã tiết lộ rằng nó là một cái gì đó phức tạp hơn rất nhiều.

Xét nghiệm quang tuyến và X-ray cho thấy sự tồn tại của một cái bản xoay được cấu tạo từ hơn 30 bánh răng ăn khớp nhau được sắp xếp theo nhiều tầng gắn vào thiết bị, chứng minh được một mức độ tay nghề cực kì khéo léo đến từng chi tiết của một nghệ nhân làm đồng hồ. Rõ ràng đây phải là một công cụ đo đạc chính xác phức tạp khủng khiếp. Nhưng chính xác thì nó là gì?

Trên thiết bị này đã từng có những vết khắc, đáng tiếc là đã bị ăn mòn bởi nước biển, những vết khắc này liên dẫn tới những vị trí hoàng đạo với một độ chính xác cao, mà ngoài sự hoàn hảo trong việc ttạo ra nó, điều này thì phải liên quan tới một trình độ thiên văn chuyên sâu đáng nể. Nó có nhiều nét giống với những công cụ thiên văn đã được biết, rất có thể nó là một loại ‘thiên bàn’ (astrolabe) cao cấp, một thiết bị định hướng, tính thời gian thiên văn dùng để xác định và đo lường vị trí quanh năm của các vì sao và hành tinh.

 

 

 

Câu đố chưa chấm dứt tại đây, vụ đắm tàu, nơi mà thiết bị này đã được vớt lên, đã xảy ra vào khoảng thời gian gần 100 năm trước công nguyên, và trước đây thì người ta nghĩ rằng trình độ kĩ nghệ tinh xảo này hoàn toàn chưa được biết trước giữa thế kỉ 16. Chưa có một hiện vật nào đạt tới mức độ tinh vi này đã từng được phát hiện trong những vụ đắm tàu trước đây và sau này. Ngay cả những cái thiên bàn từng được vớt lên một thiên niên kỉ sau này cũng chỉ rất đơn giản khi so sánh như sơ đồ sau (hình 28b).

Hình 28b

 

Thiết Bị Antikythera bản chất của nó thật sự là một câu đố hóc búa, nhưng một mặt hấp dẫn khác của vấn đề là: Để một độ chuẩn xác như máy thế này có thể tồn tại, nó có nghĩa là phải có những cỗ máy với cùng mức độ tinh vi để làm ra nó, nhưng chúng ta không có một lưu trữ nào về một cỗ máy như vậy đã từng tồn tại, và không có gợi ý nào về một khả năng như vậy đã từng được tìm thấy, vậy thì ai đã tạo ra nó – và như thế nào?

16. Các dụng cụ thủ công hiện đại thời đồ đá

Bạn có biết mất bao lâu để cho một vật hóa thạch? Chúng ta được bảo rằng quá trình đó mất đến nhiều triệu năm. Vào năm 1786, một nhóm công nhân khai thác đá vôi đã hết sức ngạc nhiên khi tình cờ phát hiện ra những cổ vật nằm bên dưới lớp đất cát khoảng 15 mét.

Dưới những tầng đất cát họ tìm thấy những chân cột đá và những mảnh đá được đục đẽo dang dở, sau khi đào xuống thêm họ phát hiện ra những đồng tiền, những cây búa gỗ hóa thạch và những dụng cụ thủ công bằng gỗ hóa thạch khác. Lớp cát được phát hiện nằm bên dưới một lớp đá vôi được ước tính ít nhất là 300 triệu năm tuổi, và gần đây việc khám phá những dụng cụ hóa thạch vẫn thường xuyên xảy ra.

Có một cây búa cầm tay được tìm thấy trong một khối đá 100 triệu năm gần London nước Anh,  tìm kiếm này đặc biệt là bởi vì dù mặt ngoài của cán búa đã bị hóa thạch, bên trong của nó đã được kiểm định là có chứa một lượng than xốp (porous coal). Đây là một điều hết sức quan trọng và ý nghĩa bởi vì không có kỹ thuật khoa học nào có thể lý giải được điều này. Lý do: tiến trình hóa thạch xảy ra khi gỗ hay vật thể có hất hữu cơ được chôn dưới bùn, trong quá trình diễn ra, silicat (silicate) thấm sâu vào vật thể và phân hủy nó, rồi từ từ thay thế cho oxy và hydro dẫn đến hóa thạch. Mặt khác, than đá được hình thành bởi gỗ đã bị cháy và sau đó bị nén dưới đất rất lâu. Hai quá trình không khác nhau nhiều, nhưng trong trường hợp này, mỗi quá trình chắc hẳn phải xảy ra đồng thời cùng một lúc hoặc liên tiếp nhau trong một khoảng thời gian rất ngắn. Đối với khoa học thì sao? họ vẫn không thể làm ra gỗ hóa thạch chứa than bên trong với các phương pháp hiện đại. Điều này hoàn toàn phủ nhận khả năng hiện vật này là giả.

17. Một Dấu Tay Hóa Thạch

Chúng ta lại còn có thêm một phát hiện ‘không thể có được’ đáng kinh ngạc về một dấu tay trọn vẹn đã hóa thạch; nó tương ứng một cách hoàn hảo với một bàn tay con người. Dấu tay này đã được tìm thấy trong lớp đá vôi tại Glen Rose. Vết hóa thạch hiển thị một mức độ chi tiết đáng kể, ngay cả dấu vân tay của ngón cái. Bạn có hiểu được rằng để cho một vật gì đó hóa thạch mất bao lâu không?

Vết hóa thạch này đơn giản là không nên tồn tại, không thể tồn tại, bởi vì lớp đá vôi nơi dấu tay được tìm thấy đã được giám định là thuộc giai đoạn giữa của Kỉ Phấn Trắng (Middle Cretaceous) vào khoảng 110 triệu năm trước đây.

Công Nghệ Nano Cổ Xưa?

Đây là những hiện vật nhỏ bé không thể hiểu hay giải thích được, những hiện vật gây chú ý này được tìm thấy từ giữa năm 1991 – 1993 bởi một nhóm đãi vàng ở dòng sông Narada nằm phía đông triền núi Uval của nước Nga. Khác xa với vàng, cái mà họ đã tìm thấy là những vật thể rất lạ thường có dạng xoắn, cái nhỏ nhất có kích thước …. 1/10.000 đơn vị inch.

Nếu chỉ xem sét sơ qua, những vật thể này có hình dạng như những con sò nhỏ hay những loài giáp xác (tôm, cua). Nhưng qua phân tích, họ đã chứng minh được chúng là một cái gì đó hoàn toàn khác biệt.  Phòng thí nghiệm đã kiểm tra và tiết lộ rằng những loại vật thể lạ thường này là một dạng hợp kẽm đồng và kim loại hiếm vonfam (tungsten) và molybdenum, dẫu cho chúng có là cái quái gì đi nữa, chúng được sử dụng cho cái gì? Hay ai đã tạo ra chúng thì vẫn còn tuyệt đối là một bí ẩn.

Những vật thể này được kiểm tra, tính toán kỹ hơn cho biết chúng có độ tuổi ở vào khoảng 20,000 – 318,000 năm!

Bu-gi 500.000 Năm Tuổi

Một vật khác được xem là kì lạ ngang ngửa được tìm thấy vào năm 1961. Những chủ nhân cửa hàng lưu niệm ở Olancha, California thu được một món đồ trông có vẻ như một tinh hốc (geodes) đã hóa thạch thông thường trong khi tìm kiếm trong dãy núi Coso. Thật quá đỗi ngạc nhiên khi họ cắt tinh hốc hóa thạch ra làm đôi với lưỡi cưa kim cương, thay vì là một bộ sưu tập thạch anh như họ nghĩ, họ đã tìm thấy một vật thể rõ ràng là nhân tạo bên trong.

Vật thể có một lõi kim loại được phủ những lớp chất như đất sét và lớp áo gỗ lục giác (nay đã hóa thạch). Điều ngạc nhiên hơn cả là khi được chụp X-quang thì vật này trông rất giống với bugi hiện đại hay một loại bộ phận điện tử. Giữa chúng có quá nhiều nét tương đồng rõ rệt để có thể bỏ qua không chú ý. 

Vấn đề thực tế ở đây là vật thể này được tìm thấy nằm bên trong tinh hốc có lớp vỏ hóa thạch được ước lượng khoảng 500.000 năm tuổi.

Chủ nhân cuối cùng được biết đến của bộ cổ vật Coso đầy hấp dẫn là một trong những người ban đầu đã khám phá ra nó, ông Wallace Lane. Lane giữ những cổ vật tại nhà nhưng ông dứt khoát từ chối trưng bày cho mọi người xem suốt những năm sau đó. Mọi người nghĩ rằng Wallace đã mất và hiện giờ không ai biết được những cổ vật không may nằm ở đâu.

 

Những Viên Đá Ica

Không nghi ngờ gì một trong những bí ẩn lớn nhất khác trong ngành khảo cổ học xoay quanh bộ sưu tập 15.000 hiện vật được tìm thấy ở Peru năm 1960. Tương tự như những đường thẳng Nazca, tôi đang nói đến bộ sưu tập những kí tượng được khắc họa trên đá, tổng cộng chúng đã tạo thành một bộ sưu tập “thư viện đá” mà ngày nay được biết đến như những viên đá Ica. Những khung cảnh lạ thường được miêu tả bằng các chạm khắc chi tiết trên những viên đá trông có như đã có từ thời tiền-Columbia và chỉ lượng số đá ấy thôi cũng là một điều đáng kinh ngạc. Nhưng còn có một câu chuyện khá hấp dẫn xoay quanh những viên đá bí ẩn này.

Những viên đá được một người nông dân địa phương tìm thấy trong một cái hang tại một nơi được gọi là Ica, cách Lima khoảng 300km. Người nông dân này xác nhận là ông đã tìm thấy những hòn đá được chất chồng ở nhiều hang khác nhau, và những hẽm hóc trong khu vực. Một số viên đá nằm rải rác trên mặt đất và cả dưới mặt đất. Lúc đầu ông chỉ lấy một vài túi đá, nhưng sau đó đã trở lại để lấy thêm hàng ngàn viên đá khác nữa và trong khoảng một thời gian cuộc sống của ông được cải thiện rõ rệt nhờ vào việc bán những viên đá cho du khách ở gian hàng triển lãm.

Thời gian đó tiếng tăm của người nông dân bắt đầu được đồn thổi lên trong vùng và tin tức về việc này đã bắt đầu lan truyền tới tai của các cộng đồng khảo cổ. Nhiều chuyên gia đã bắt đầu đi xuống khu vực để nghiên cứu giá trị của những viên đá. Một cách tự nhiên, sự hiếu kỳ nhanh chóng gây chú ý đến chính phủ Peru. Họ e rằng Peru sẽ trở thành một Ai Cập thứ hai và sớm bị tàn phá bởi những tên đào bới, cướp bóc. Ngay lập tức họ ra lệnh bắt giữ người nông dân để tiến hành điều tra vụ việc.

Những gì họ đã nói với người nông dân lúc thẩm tra thật sự không ai biết. Nhưng ngay sau khi ông được thả ra ông đã tự tay viết rằng toàn bộ sưu tập đá là một trò lừa đảo, rằng ông đã tự tay khắc hình lên đá để đánh lừa du khách để kiếm tiền, không lường trước được sự việc sẽ đi quá xa.

Nhưng câu chuyện không phải chỉ có bấy nhiêu.

Vào năm 1966 một nhà vật lý học của thành phố, tiến sĩ Javier Cabrera nhận được một viên đá như một món quà sinh nhật từ một người dân địa phương. Trước đó ông đã biết đến câu chuyện lạ thường này, ông để ý rằng không những nó thật sự trông y như một viên đá cổ, nhưng điều thật sự làm ông thích thú là sự kiện hòn đá đã khắc họa chính xác một loại cá tuyệt chủng thời tiền sử. Người nông dân bị nghi ngờ hoàn toàn không được dạy dỗ thậm chí là ông không hề biết đọc. Quả thật, đây là một câu đố với vị tiến sĩ, làm sao mà một người nông dân có thể có đầy đủ một kiến thức về bản thể học để có thể vẽ ra một cách chính xác các kết cấu đúng để chạm trổ một loại sinh vật biển tuyệt chủng?

Thú vị hơn nữa, Tiến Sĩ Cabrera đã đến gặp người nông dân và nhanh chóng trở thành người mua hàng chính những viên đá khắc, có vẻ như người nông dân hầu như có được một nguồn cung cấp vô tận. Tiến sĩ bắt đầu lập ra một thư viện đá được sắp xếp theo từng chủ đề, bao gồm: các chủng tộc loài người, động vật cổ xưa, những lục địa đã mất, thảm họa toàn cầu. Tiến sĩ đã nhiều lần đặt câu hỏi với người nông dân về nguồn gốc của những viên đá, nhưng ông sợ bị bắt và tống giam suốt đời. Ông vẫn giữ thái độ tránh né và khăng khăng khẳng định rằng chính ông là người đã khắc lên những viên đá đó. (Cần phải hiểu rằng việc di dời và buôn bán cổ vật mang một hình phạt nặng nề theo luật pháp quốc tế, một sự kiện có thể giải thích việc người nông dân đột ngột thay đổi thái độ khi ông bị bắt).

Càng ngày người nông dân càng sản xuất đá nhiều hơn để bán, sau khi mua hàng ngàn viên đá ấy, Tiến Sĩ cảm thấy như mình trở thành con mồi và bắt đầu nghĩ rằng biết đâu được người nông dân đã tự tạo ra những viên đá đó. Ông bắt đầu thúc ép người nông dân nói ra phương pháp ông dùng để khắc đá, nhưng ông vẫn tiếp tục lảng tránh và từ chối thảo luận về cách thức khắc đá.

Sau một thời gian vị tiến sĩ lập luận rằng một cách hợp lý, với số lượng đá nhiều như vậy trong bộ sưu tập, nếu người nông dân thật sự đã khắc chúng thì anh ta đã phải khắc viên đầu tiên lúc anh ta được 2 tuổi và tiếp tục khắc mỗi ngày cho đến khi anh ta hơn 40 tuổi để sản xuất ra toàn bộ số lượng đá. Không cần phải suy luận nhiều khi hiển nhiên đó là điều không thể xảy ra. Vì thế Tiến Sĩ Cabrera đã quyết chí tìm cho ra câu trả lời về những viên đá Ica dựa trên nghiên cứu về những nét vẽ trên đá.

Những viên đá khắc có đủ loại kích cỡ: Một số thì vừa với lòng bàn tay, số khác thì lớn bằng kích cỡ của một con chó loại trung và phần còn lại nằm trong khoảng giữa hai loại trên. Mỗi một viên đá khắc một hình ảnh trên mặt đá bằng những đường liên tiếp, chúng không phải là những đường nét được cắt đi cắt lại nhiều lần. Theo địa chất học, những viên đá này là một dạng đá andesit (andesite), một loại đá núi rất cứng, có đủ loại màu sắc, từ xám ngả sang đen, và rất khó cho việc khắc bằng dụng cụ cầm tay. (Andesit xuất hiện từ nhiều dạng – than đá cũng là một dáng andesit).

Đáng chú ý là những đường khắc để lộ ra một lớp màu khác với bề mặt phủ bóng (patina) bên ngoài mặt đá và những đường rãnh được khắc cũng để lộ những dấu hiệu của một lớp phủ bóng, cho thấy những vết khắc này đã được tạo ra cách đấy rất lâu. Tuy nhiên vết phủ bóng cũng có thể là giả mạo, vì vậy một trong những viên đá ấy được gởi đến phòng thí nghiệm ở Đức để kiểm tra. Ở đó họ sẽ xác minh được cả lớp phủ bóng bề mặt lẫn các đường rãnh có vẻ như đã được khắc lên từ rất xa xưa.

Để giải thích ngắn gọn về ngày tuổi của viên đá khắc: Niên định phóng xạ carbon (Radiocarbon dating), thông thường cách này chỉ sử dụng cho đồ gốm hay tượng đất sét, không thể sử dụng trên đá. Bởi vì đá không chứa chất hữu cơ, tuy nhiên bề mặt của đá được phủ một lớp véc ni, dầu bóng, nó là kết quả của vi khuẩn và những vi sinh vật nhỏ bé khác bám vào theo thời gian. Đá cổ có một lớp véc ni phủ dày được hiểu như lớp phủ bóng đã đề cập. Một lớp phủ bóng chắc, bền trải qua hàng ngàn năm trở nên đậm màu, mất màu và cuối cùng hình thành nên một lớp phủ rắn chắc trên mỗi viên đá. Việc khắc lên mỗi viên đá thường xóa đi lớp phủ bóng. Tuy nhiên, trên đá Ica thì lớp phủ bóng xuất hiện bên trong mỗi đường rãnh khắc mà cho thấy việc khắc là được làm cách đây rất lâu. Một thời gian tối thiểu để cho lớp véc ni tái tạo trở lại.

Nhiều cảnh tượng được vẽ lên những viên đá Ica đã gây sự kinh ngạc tột bậc . Hầu như là vượt quá sự hiểu biết của người nông dân không có kiến thức ở một ngôi làng nhỏ của người Peru.

Có vài viên đá khắc họa về mã di truyền và sự kéo dài tuổi thọ, một số khác khắc học những đường vân máu được nối lại theo những ống hút (re-absorption tubes). Có một viên đá khắc họa một cảnh phẩu thuật Cesar, gây tê bằng châm cứu. Có nhiều viên đá vẽ rõ ràng những người đang cưỡi khủng long, và loài bò sát bay.

Có những viên đá vẽ người địa phương đang mang vương miện cao và áo choàng dài mang dáng dấp của người Inca trong lúc thực hiện việc chữa bệnh cho bệnh nhân. Một vài bức vẽ việc cấy ghép não bộ và trái tim. Những viên đá khác cho thấy những người đàn ông sử dụng kính thiên văn để xem sao chổi đang rơi. Có một chuỗi 4 viên đá cho thấy 4 bán cầu của trái đất và những nghiên cứu cho thấy tất cả đều chính xác. Trừ ra một cái cho thấy có thêm một lục địa đã từng tồn tại nhưng không còn.

Thật thú vị khi những lục địa đã mất là đề tài thường xuyên được đề cập từ quá nhiều câu chuyện huyền thoại cổ xưa như thế.

Một viên đá khác rất thú vị vẽ ra chính xác hơn những đường thẳng trên đồng bằng Nazca. Thậm chí những đường thẳng chỉ có thể được quan sát từ trên không. Thật khó mà tin rằng có một sự chạm khắc chính xác đến vậy đã được thực hiện bởi một người nông dân trong làng.

Tiến sĩ Cabrera sớm kết luận rằng người nông dân không thể tự chạm khắc tất cả những viên đá kia, đơn giản là ông ta không có thời gian, không có những kỹ năng cần thiết, hay có kiến thức về khoa học và thực vật học bắt buộc để vẽ ra được một viên đá. Sau một thời gian và sau khi mua bán khoảng 11.000 viên đá thì Tiến Sĩ đã bắt đầu được tin cậy hơn từ người bạn nông dân của mình.

Tiến sĩ đã hiểu được rằng người nông dân sẽ được phóng thích khỏi nhà tù chỉ khi ông ta chấp nhận viết một bản thừa nhận có kí tên về việc lừa đảo du khách. Ông ta phải đồng ý nói rằng những viên đá không được tìm thấy từ những ngọn đồi mà là do chính ông ta đã chạm khắc. Hoặc là viết như vậy, hoặc là anh ta sẽ bóc lịch suốt phần đời còn lại vì tội đánh cắp và buôn bán những viên đá cổ.

Tiến sĩ Cabrera tiếp tục nỗ lực nghiên cứu làm sáng tỏ những bản đồ vẽ trên những viên đá, thậm chí còn làm việc với một số nhà địa chất chuyên môn. Vài viên đá khắc trông như bản đồ thế giới, chỉ có điều là với những hình dạng kì lạ. Vài góc độ, và mảng đất trông rất quen thuộc. Nhưng đa phần các lục địa đều mang một hình dạng khó nhận ra. Tuy nhiên sau khi những nhà địa chất nghiên cứu sâu hơn đã xác nhận dựa trên kết quả hiện tại của máy tính, các lục địa được vẽ trên viên đá đích thực là Trái Đất cách đây khoảng 13 triệu năm, trước thời đồ đá. Vài viên đá chính xác vẽ ra những biểu đồ tinh tú thời xa xưa.

Trở lại với những câu hỏi lớn còn để ngỏ, làm thế nào mà bất kì một người không có kiến thức khoa học thời nay biết rằng bầu trời trông như thế nào từ mặt đất, và mặt đất trông như thế nào từ bầu trời cách đây khoảng 13 triệu năm trước, nói chi đến một người nông dân đơn độc không trình độ ở Peru năm 1960?

Vài người nông dân ở địa phương đã mê muội trước những gì các viên đá danh tiếng này có thể mang lại, đã bắt đầu tự chế tác và bán ra những viên đá giả mạo cho những du khách cả tin, vì thế nên những viên đá xuất hiện sau này ở khu vực trở thành một mối khả nghi lớn. Tuy nhiên chúng ta không thể phủ nhận được về độ thực của những viên đá lúc đầu. Ai là người đã tạo ra chúng có lẽ sẽ luôn là một điều bí ẩn. Nhưng độ chi tiết và chính xác của một bộ sưu tập 15 ngàn viên đá thật sự là một trong những điều bí ẩn nhất và huyền bí lôi cuốn nhất của Nam Mĩ.

Kim Tự Tháp Ai Cập 

Trong bất kì một danh sách nào về những điều lạ lùng, một trong những điều đầu tiên người ta nghĩ tới là, tất nhiên, Kim Tự Tháp Lớn (The Great Pyramid) ở Ai Cập. Kim Tự Tháp đã từng là nguồn gốc của vô số lý thuyết, ý tưởng, lời đồn, và suy đoán. Nhiều năng lực đáng ngạc nhiên đã được gán cho nó.

Mặc dù nhiều lý thuyết đã được đưa ra về chuyện Kim Tự Tháp đã được xây dựng như thế nào, nhưng nếu soi xét lại cho rõ thì, không một lý thuyết nào được trình bày từ trước đến giờ đã có thể chứng minh được sự đầy đủ. Nó đã được lý thuyết thành khá nhiều thứ, từ một ngôi mộ, cho tới một căn phòng điểm đạo, cho tới một cột mốc vũ trụ, cho tới một cái máy bơm nước khổng lồ, và bên cạnh rất nhiều thứ khác. Có vô số sách đã được viết về nó và vô số lý thuyết được tranh luận. Thật sự thì toàn bộ khu phức hợp Thung Lũng Giza khá đặc biệt, và cũng có rất nhiều điều bí ẩn xung quanh toàn bộ khu vực; mục đích của nó và cách xây dựng nó.

Khu phức hợp này thật sự quá đặc biệt đến nỗi toàn bộ một chương sẽ được dành riêng cho nó vào phần sau cuốn sách. (Xem chương 4- Thung lũng các vị vua) 

Nút Tai của Người Aztec? 

Nền văn hóa Aztec, cũng như nhiều nền văn hóa quá khứ của vùng Trung Mỹ, có một niềm say mê dành cho một loại đá gọi là đá vỏ chai (obsidian). Nó được dùng chủ yếu là những hiến vật trong các nghi thức cúng tế, thường được tìm thấy ở nhiều địa điểm tại Nam Mỹ. Trong trường hợp bạn không quen thuộc với loại đá này, đá vỏ chai rất dễ vỡ, nó là một dạng thủy tinh màu đen từ núi lửa và khá khó khăn để trạm khắc hay xử lý.

Tuy nhiên, có một thời gian trong quá khứ, một nghệ nhân khuyết danh đã được xem là đã làm ra những món đồ nhỏ nhắn tuyệt vời, khá kì lạ, này (Hình 6), nó được cho là những cái nút tai. Đúng vậy, nút tai, và chúng ta được yêu cầu phải tin là nó được tạo ra từ những công cụ Aztec thông thường thời đó, như là khoan tre, búa đục đá, và cát nhuyễn dùng để mài mòn.

Hình 6

Điều này chỉ có thể được nhận ra như là một kết luận cực kì không thể thấu triệt, bởi vì những món đồ này đã được trau chuốt cho tới một độ dày chưa tới một milimét liên tục toàn diện, nó tròn trịa tuyệt đối, hoàn toàn cân đối và một cặp thì có kích thước giống nhau như đúc một cách chính xác.

Bây giờ chúng ta hãy suy nghĩ về điều này một chút và nhớ rằng chúng ta đang nói về những cái nút tai ở đây. Những thứ này rất rất nhỏ, và tôi chắc rằng bạn sẽ hình dung được nếu bạn nghĩ tới kích thước của một cái lỗ tai thật sự, hơn nữa, nó được tạo ra với một độ chính xác không thể tin được từ đá vỏ chai.

Hãy chú ý đến độ chính xác của cái đường vành nhỏ nhô ra từ hai đầu của nó. Rất khó để tưởng tượng rằng một ai đó làm ra nó từ đá vỏ chai dễ vỡ bằng các công cụ thủ công thô sơ.

Tuy nhiên điều hấp dẫn và thú vị nhất về những hiện vật này là dưới sự soi xét tỉ mỉ những dấu hiệu không thể nhầm lẫn được của máy móc thật sự hiển hiện khá rõ ràng. Điều này làm cho cái ý tưởng rằng chúng được làm bằng tay càng khó thuyết phục hơn.

Chiếc Bình Kim Loại Bí Ẩn

Tháng Sáu 1851, tạp chí Khoa Học Mỹ ‘Scientific American’ đã cho in lại bài báo cáo đã từng xuất hiện trong tờ nhật báo Boston Transcript về một chiếc bình kim loại được khám phá bởi các thợ mỏ (hình 7). Chiếc bình được tìm ra trong hai phần, cùng với đống đá vụn khi nó được lấy ra từ trong lớp đá trầm tích cứng lúc được cho nổ tại Dorchester, Mass. Điều kì lạ là, nó đã bị chôn vùi 4.57 mét dưới mặt đất và bị nằm sâu bên trong đá. Điều này cho thấy rằng nó đã từng nằm đó trong một thời gian rất dài.

Hình 7

Chiếc bình hình chuông cao 11.43 cm và rộng 16.51 cm. Được cấu tạo bởi một hợp kim kẽm và bạc, với hai mặt được trang trí thiết kế hoa văn và sắp xếp theo bó hoa, tất cả được dát bạc tinh khiết. Lớp đá mà chiếc bình đã bị chôn vùi trong được ước lượng khoảng 100.000 năm tuổi.

Làm sao mà chiếc bình đã bị chôn vùi thật chặt 4.57 mét dưới lớp đá trầm tích?

Dây Chuyền Bị Mất

 

Người ta đã biết rằng than đá được hình thành trong nhiều ngàn năm từ những thân cây đã bị cháy và đổ xuống và đã trải qua áp lực khủng khiếp tính bằng tấn từ lớp đất đá bên trên trong nhiều năm. Một cục than đá vì thế mà, đơn giản bởi bản chất về sự hình thành của nó, là một thứ rất cổ xưa. Nói theo nghĩa đen, không có “than đá mới”. Vậy mà một buổi sáng tháng sáu 1891, một người phụ nữ có tên S. W. Culp, tại thành phố Morrisonville, Tiểu Bang Illinois, đang đập than đá ra thành từng miếng nhỏ để cho vào bếp lò và bỗng dưng để ý thấy từ một cục than mà bà đã đập ra có một sợi dây chuyền dính trong nó. Sợi dây chuyền dài 25.4 cm và sau này đã được phân tích làm từ vàng 8 cara. Đáng tiếc là không có một bức ảnh nào về sợi dây chuyền, và nơi chốn hiện tại của nó thì cũng bặt vô âm tín, tuy nhiên, sự kiện này đã được ghi nhận khá chi tiết.

Theo sổ sách của Thời báo Morrisonville ngày 11 tháng 6, năm 1891, các nhà điều tra kết luận rằng sợi dây, được mô tả là đã được chế tạo bằng “một sự khéo léo duyên dáng cổ xưa”, không chỉ đơn giản là vô tình bị rớt trong than đá bởi một người công nhân,vì một cuộc khám xét kĩ lưỡng đã hiển thị rõ ràng một số mảnh than vỡ vẫn còn bám trên các mối kết của sợi dây, trong khi một phần của mảnh than vỡ vẫn còn mang dấu ấn riêng biệt của nơi sợi dây đã từng nằm trong đó. Người phóng viên mô tả nó theo cách này:

“Bà Culp nghĩ rằng sợi dây chuyền đã vô tình bị rơi trong đống than, nhưng khi bà nhặt nó lên, ý tưởng rằng nó đã bị đánh rơi trong thời gian gần đây là không thể được, vì khi cục than vỡ ra và gần như là tách làm đôi, và vị trí vòng tròn của sợi dây có hai đầu nằm gần với nhau, và khi cục than tách ra, phần giữa của sợi dây bị rơi ra trong khi hai đầu vẫn còn dính chặt vào cục than… “

Làm thế nào mà một sợi dây chuyền vàng được rèn tinh xảo đã có thể dính chặt trong một cục than, một vật mà sự tồn tại của nó đòi hỏi hàng ngàn năm tuổi?

Rõ ràng là sợi dây chuyền đã không bị mất quá gần đây.

Bản đồ Buache, 1737

Phillippe Buache là một nhà địa lý Pháp của thế kỷ 18, ông đã vẽ một bản đồ cho thấy rõ ràng Nam Cực, ngoại trừ là bản đồ của Buache cho thấy Nam Cực là hai mảnh đất riêng biệt, với bờ biển chi tiết. Trong nhiều năm, bản đồ được coi là sai bởi vì khi Nam Cực được phát hiện ra nó thật sự không nhìn giống như những gì Bauche đã vẽ.

Sau đó, vào năm 1958, một cuộc khảo sát địa chấn ở Nam Cực đã được thực hiện đáng, ngạc nhiên nó cho thấy rằng Nam Cực thực sự là hai quần đảo được bao phủ bởi một lớp băng dày làm cho nó xuất hiện như là chỉ có một vùng đất rộng lớn, và không chỉ vậy địa hình chung của các vùng đất dưới lớp băng còn giống với bản vẽ trên bản đồ Buache đến từng chi tiết. Làm thế quái nào mà chuyện này có thể xảy ra? Tấm bản đồ này có nghĩa rằng Buache đã từng sở hữu một bản đồ chính xác cho thấy Nam Cực 100 năm trước khi nó được phát hiện, và không chỉ vậy, khi nó còn không có bất kỳ băng tuyết nào.

Nam Cực đã không còn trong tình trạng không băng tuyết ít nhất 10.000 năm, nhiều nhà khoa học tin rằng thời điểm đó có lẽ là vài triệu năm thì đúng hơn.

Bản đồ Franco Rosselli, 1508

Franco Rosselli là nhà đồ bản nổi tiếng ở Florentine của thế kỷ 15 đã tạo ra một khắc bản đồng tương đối nhỏ nhưng có minh hoạ phong phú, được sơn màu thủ công trên giấy thuộc (giấy da bê), kích thước 6 x 11 inches (15.25 x 28 cm) . Tác phẩm được lưu giữ trong Bảo tàng Hàng hải Quốc gia Greenwich.

Tại thời điểm Rosselli tạo ra bản đồ, nó vẫn còn là một nghệ thuật thử nghiệm tương đối mới, điều này càng làm cho những tiết lộ trong bản đồ thế giới của ông thậm chí còn tuyệt vời hơn. Bản đồ mô tả về Nam Cực, nó là một công trình đòi hỏi độ chính xác cao và thậm chí nó còn đặt tên các khu vực khá cụ thể như Antarticus.

Các chi tiết trên bản đồ của Rosselli được vẽ vô cùng chính xác, và cũng như những tấm bản đồ trước đây, các đặc điểm địa lý như biển Ross và Wilkes Land đặc biệt dễ dàng để nhận dạng.

Một lần nữa, điều rắc rối về tấm bản đồ đặc biệt này là năm nó được vẽ năm 1508. Căn cứ theo lịch sử của chúng ta đây là trọn vẹn ba thế kỷ rưỡi trước khi Nam Cực được phát hiện. Và ở đây một lần nữa chúng ta có Nam Cực được mô tả chính xác trên bản đồ vào thế kỷ 15 ở Florentine.

Bản đồ Mercator, 1538

Và thậm chí còn có một bản đồ hấp dẫn khác nữa là một cái được vẽ trong năm 1538 bởi Mercator, một nhà đồ bản rất được kính trọng sống ở thế kỷ 16. Những công trình của ông khá nổi tiếng và bạn vẫn có thể mua một tập bản đồ Mercator trong các tiệm sách ngày nay. Mercator nổi tiếng với công việc cập nhật định kỳ bản đồ và sản xuất ra những tập bản đồ thế giới mới rõ ràng hơn khi những bờ biển đã được vẽ và khi ông ta có được những biểu đồ chính xác hơn. Trong khi làm một bản nâng cấp như vậy, bản đồ thế giới năm 1538 (hình 5) đã được thay thế bằng một bản mới trong năm 1569. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta biết rằng  không những tấm bản đồ năm 1538 trước đó thật sự đã chính xác hơn nhiều cái sau này, mà còn một điều tuyệt vời hơn nữa đã được chứng minh rằng nó cũng bao hàm luôn các phép đo lường kinh độ chính xác.

Hình 5

Để gom lại tất cả những gì đã được đề cập về kinh độ thành một nhận định chung: Kinh độ là khoảng cách tính bằng độ giữa một điểm phía đông hay tây tới Kinh Tuyến Gốc. Vì trái Đất xoay quanh trục, tính toán kinh độ khó hơn nhiều vĩ độ, để tính được vĩ độ thì chỉ cần xác định vị trí những ngôi sao hay quan sát mặt trời. Nhưng để tính toán kinh độ, ta cần tới công thức: ‘Khoảng cách = Vận Tốc x Thời Gian’ và quan trọng nhất là, một cái đồng hồ chính xác. Khám phá ra kinh độ đã từng một lần được xem là “vấn đề hóc búa nhất trong hải quân”, và trong những năm 1700, có một Ban Kinh Độ (Board of Longitude) ở Anh đã được thành lập để giải quyết vấn đề này . Năm 1714, Ngài Isaac Newton đã đứng trước Ban và giải thích rằng vấn đề thực sự là “một cái đồng hồ cần thiết với độ chính xác cao chưa từng được chế tạo.” Hoàng Hậu Anh sau đó liền treo giải thưởng 20,000 pounds cho bất kì ai có thể sáng chế ra được thiết bị này và cuối cùng, vào năm 1761, một người tên là Harrison đã thắng được giải với bản mẫu niên kế (chronometer) của ông, thiết bị này về sau đã mở ra một kỉ nguyên mới về ngành hàng hải cho thế giới.

Trong suốt thế kỷ 19, những tấm bản đồ đã bắt đầu được cập nhật với kinh độ chính xác. Tuy nhiên bản đồ Mercator năm 1538 được đánh dấu với kinh độ chính xác trọn 223 năm trước khi nó được phát hiện. Ông có thể có được thông tin đó từ đâu? Rõ ràng rằng Mercator đã không có kiến thức thực sự về kinh độ vào thời điểm đó và phải vay mượn hoặc nhận được thông tin từ một nguồn khác, bởi vì sau đó ông ta đã cập nhật các bản đồ tiếp theo của mình không chính xác với những thông tin được xem là mới hơn và đáng lý là phải đáng tin cậy hơn.

Các bản đồ này hợp lại thành những bằng chứng thực sự cực kì quan trọng, nếu người cổ xưa chưa bao giờ đi vòng quanh trái Đất hoặc từng sở hữu bất kỳ kiến thức về kinh độ thì làm thế nào mà bất cứ một trong những tấm bản đồ này tồn tại?

=============

Nhóm Học Giả Đường Phố chuyển dịch

Chương 2

 

Những câu đố của quá khứ

 

Mọi thứ đã bắt đầu khi tôi còn là một đứa trẻ, tôi đã nhìn thấy được một bức ảnh về Kim Tự Tháp. Lúc đó người ta nói với tôi là không ai thực sự biết nó đã được xây lên như thế nào, từ giây phút đó tôi đã bắt đầu bị cuốn hút bởi cái quá khứ bí ẩn của chúng ta.

Từ lúc đó, tất cả các mối quan tâm về truyện tranh của tôi đã được dẹp bỏ, bây giờ tôi bắt đầu lục lọi cuốn bách khoa toàn thư của mẹ tôi. Dù tôi không thể hiểu được phần lớn văn bản, nhưng những hình ảnh về khủng long và các cấu trúc cự thạch cổ xưa và huyền bí đã hoàn toàn thấm nhuần vào người tôi. Họ đến từ đâu? Tôi thắc mắc. Nhân loại có thực sự có một lịch sử chưa được biết đã mất tích hoặc lãng quên? Có thể thực sự có được một nền văn minh tối tân từ thời xa xưa, trước cái lịch sử đã được lưu lại của chúng ta? Những câu hỏi và những cuộc tranh luận về vấn đề này đã nổ ra trong nhiều năm. Khi được hỏi, hầu hết các học giả sẽ cho bạn biết rằng đó là một ý kiến hay, nhưng cho cùng thì huyền ảo, và thật sự là không có bằng chứng nào cho thấy rằng có một nền văn minh đã từng thực sự tồn tại. Tuy nhiên, nhiều người khác sẽ lập luận rằng thật sự là có một khối lượng đáng kể bằng chứng tồn tại mà chỉ đơn giản là không thể được giải thích qua loa. Vậy thì, sự thật là gì? Chúng ta đang nói tới những bằng chứng nào? Một mớ  các bức vẽ lạ thường trong hang động và các lý thuyết bí truyền bởi những con người kì lạ, hay là có một cái gì đó rõ ràng hơn?

Hoàn toàn thành thật mà nói, bằng chứng nhân chủng học, dù có thuyết phục thế nào, cũng luôn tùy vào tình huống, trong khi truyền thuyết và huyền thoại không chứng cớ mới là đáng ngờ và một cách tự nhiên nó dẫn tới những diễn giải cá nhân, vì vậy ta cần phải tìm kiếm một sự xác thực xa hơn. Khi ta làm thế, ta thấy rằng thực tế là có một khối lượng lớn bằng chứng vật chất rõ rệt, ngày càng nhiều hơn, và nó đang đi một chặng đường dài dẫn tới việc loại bỏ những gì ta đã được dẫn dắt để tin. Những bằng chứng này cho chúng ta biết rằng hoặc là lịch sử chúng ta được dạy về Trái Đất là sai, hoặc là lịch sử chúng ta được dạy về sự phát triển của nhân loại là sai – hoặc là cả hai.

Thực tế này đang nhanh chóng trở thành quá lớn để có thể từ chối, và ngày càng có nhiều bằng chứng đang được tìm thấy thường xuyên hơn bao giờ hết để củng cố cho cái kết luận. Nên cái kết luận rõ ràng ta đang phải đối mặt với ở đây là cộng đồng hàn lâm hoặc là hoàn toàn ngu ngốc (điều đó là đáng nghi ngờ) hoặc là chỉ đơn giản không nói cho ta biết sự thật! Có lẽ họ đang chờ đợi đúng thời điểm …

Nhưng trước khi chúng ta cố gắng tìm xem câu trả lời cho câu đố của chúng ta nằm ở đâu, chúng ta hãy điều tra xem các bằng chứng về một nền văn minh cổ đại với công nghệ cao cấp thực sự có tồn tại đó là gì, dưới hình thức nào, và liệu chúng ta sẽ được trình bày bởi bất cứ điều gì thực sự không thể giải thích? Và như bạn sẽ thấy, các bằng chứng cho thấy toàn bộ lịch sử của chúng ta là sai thực sự khá là bao la, dưới nhiều hình thức khác nhau. Nhưng để bắt đầu, chúng ta có thể kiểm tra một số Kì Vật (Ooparts – out ouf place artifacts) trêu ngươi đã đề cập trong chương trước, và theo lịch sử chính thống của chúng ta chúng ta, những vật thể này thực sự là cực kỳ Kì Lạ!

Một vài lời cũng phải được nói ở đây về các phương pháp được sử dụng để định tuổi nhiều hiện vật này. Trong những hiện vật có chứa vật chất hữu cơ, phương pháp giám niên Cacbon Phóng xạ (Radiocarbon dating) được sử dụng. Trong khi những hiện vật vô cơ khác thì được định tuổi bằng cách giám niên các lớp địa tầng nơi chúng được tìm thấy, và các phương pháp tiêu chuẩn địa chất khác. Tính chính xác của cả hai kỹ thuật này có thể xê xích tùy vào các sự kiện trong quá khứ có thể đã xảy ra tại địa điểm được thẩm định, điều này sẽ được thảo luận sau, nhưng bây giờ, hãy xem xét một số Bí Ẩn.

 

============

 

Nhóm Học Giả Đường Phố chuyển dịch