Tag Archive: luân hồi


 

Trong Phật Giáo thì cái gì đi đầu thai? Đó chính là dòng tâm thức (tinh thức) luôn biến đổi (Tiếng Pali: samvattanika viññana, viññana sotam; Tiếng Phạn: vijñana srotām, citta-saṃtāna. Tiếng Anh: ever-evolving consciousness, stream of consciousness, mind-continuity)[1][2][3]. Khi một người qua đời thì ngũ uẩn (5 thành phần kết hợp nên một người) tan rã, dòng tinh thức này trở nên một nhân tố để một nhóm ngũ uẩn khác bắt đầu. Khi một người chết đi, dòng tinh thức này vẫn tiếp tục và được sinh ra trong một cơ thể mới [4]. Vì dòng tinh thức này luôn luôn thay đổi, con người mới sẽ không hoàn toàn giống, hay hoàn toàn khác con người cũ [5].

Nếu danh từ “linh hồn” có ý nói về một thành phần phi vật chất trong mỗi con người và nó sẽ tiếp tục bằng cách nào đó sau cái chết, thì Phật giáo không từ chối sự tồn tại của linh hồn.[6]




______

Nguồn:

[1] “Post-Classical Developments in the Concepts of Karma and Rebirth in Theravada Buddhism.” by Bruce Matthews. in Karma and Rebirth: Post-Classical Developments State Univ of New York Press: 1986 ISBN 0-87395-990-6 pg 125

[2] Collins, Steven. Selfless persons: imagery and thought in Theravāda Buddhism Cambridge University Press, 1990. ISBN 0-521-39726-X pg 215

[3] “Post-Classical Developments in the Concepts of Karma and Rebirth in Theravada Buddhism.” by Bruce Matthews. in Karma and Rebirth: Post-Classical Developments State Univ of New York Press: 1986 ISBN 0-87395-990-6 pg 125

[4] Sources of Indian Tradition, vol. 1, ed. Theodore de Bary (NY: Columbia UP, 1958), p. 94

[5] Walpola Rahula, What the Buddha Taught (NY: Grove, 1962), p. 33

[6] [ Sources of Indian Tradition, vol. 1, ed. Theodore de Bary, p. 94]


__________

Bruce Matthews: Trưởng khoa nghệ thuật, giáo sư chuyên ngành đối chiếu tôn giáo tại đại học Arcadia University, Canada. Cựu học giả commonwealth trong cộng đồng Văn Minh Phật Tử tại đại học University of Ceylon, Peradeniya.

Steven Collins: Học vị tiến sĩ từ đại học Oxford University. Từng là giáo sư dạy ở các trường đại học Bristol University, Indiana University, Concordia University, và University of Chicago. Là một thành viên trong hội đồng quản trị của cộng đồng Pali Text Society (London).

Theodore de Bary: Tiến sĩ, giáo sư khoa nhân văn tại Đại học Columbia, chuyên ngành văn hóa Đông Á.

Walpola Rahula: Tăng sư, học giả, soạn giả. Giáo sư chuyên ngành Lịch sử và Tôn Giáo tại Đại học Northwestern, vị Tì Khưu đầu tiên trên thế giới có được một vị trí trong ngành giáo dục tại Tây phương. Từng giữ vị trí Phó hiệu trưởng tại đại học Vidyodaya, ngày nay được biết đến dưới cái tên đại học Sri Jayewardenerupa. Library Journal, một tiếng nói lớn trong cộng đồng xuất bản, nhận xét “Rahula là một tu sĩ học giả đã được giáo dục theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy tại Ceylon. Tầm nhìn rõ ràng và xúc tích về những khái niệm Phật giáo của ông chưa bao giờ có ai vượt qua được. Nó là một tiêu chuẩn.”

 

(Theodore de Bary, Tiến sĩ, giáo sư khoa nhân văn tại Đại học Columbia, chuyên ngành văn hóa Đông Á.)

“Trong kinh điển Nikaya, câu hỏi về sự tồn tại của Trời, God, được suy xét chủ yếu một là từ góc độ liên quan đến nhận thức luận (epistemological), hoặc hai là từ góc độ luân lý. Với góc độ nhận thức luận, câu hỏi về sự tồn tại của Trời chung qui dẫn đến một sự thảo luận về việc có hay không một tầm giả tôn giáo có thể chắc chắn rằng có một cái thiện tối cao và vì thế những nỗ lực của hắn để nhận ra cái thiện tối cao này sẽ không là một sự tranh đấu vô nghĩa hướng đến một mục tiêu không thực tế. Và với góc độ luân lý, câu hỏi chung qui dẫn đến sự thảo luận về có hay không việc con người một cách cùng nhất chịu trách nhiệm cho mọi bất hạnh hắn cảm thấy , hoặc có hay không một thực thể cao cấp hơn đem đến những bất hạnh cho con người mà không cần biết hắn có đáng bị như vậy hay không…. Phật Thích Ca được miêu tả không phải như là một người vô thần, một người tuyên bố có khả năng chứng minh sự không tồn tại của Trời, nhưng đúng hơn là một người nghi ngờ các tuyên bố của những vị thầy khác về việc có khả năng dẫn dắt môn đồ của họ hướng đến cái thiện tối cao.

Trong khi người đọc bị bỏ ngỏ để kết luận rằng chính sự ràng buộc, thay vì Trời, những hành động trong các kiếp trước, số mệnh, vị trí sinh thành, hay những nỗ lực trong kiếp này mới chính là những yếu tố chịu trách nhiệm cho những trải nghiệm về đau khổ. Không có một lý lẽ có hệ thống nào được đưa ra để cố gắng bác bỏ sự tồn tại của Trời.”

– Richard Hayes (Giáo sư, Tiến sĩ Triết học Phật Giáo tại đại học University of New Mexico. Một học giả danh tiếng trong lĩnh vực Phạn ngữ Phật Giáo, chuyên nghiên cứu về Dharmakīrti (Pháp Xứng) và Dignāga (Trần Na). Từng là giáo sư dạy Phạn ngữ tại McGill University, Canada.)

 

 

[LX chuyển dịch]