Tag Archive: tâm linh


“Bất kì ai thật sự nghiêm túc trên con đường theo đuổi khoa học trở nên chắn chắn rằng có một Linh Hồn hiển hiện trong Luật Lệ của Vũ Trụ; Một Linh Hồn, cao cấp hơn, của loài người.”

~ Albert Einstein

Advertisements


Trời (Chúa, Phật, Allah, Thần, Thánh….), xin trao cho con sự thanh thản
để chấp nhận những điều
con không thể thay đổi,

Lòng can đảm để thay đổi
điều con có thể, và
trí tuệ để biết được sự khác nhau.

Tôi là một quang nhân
Tôi đã tỉnh thức để người khác cũng có thể tỉnh thức
Tôi học hỏi để người khác cũng có thể học hỏi
Tôi biến đổi để người khác cũng có thể biến đổi
Tôi làm vơi đi gánh nặng để người khác cũng có thể làm vậy
Tôi học cách thấy để người khác cũng có thể thấy
Tôi tha thứ bản thân để tôi cũng có thể giúp người khác tha thứ
Tôi yêu bản thân để tôi cũng có thể khơi dậy tình yêu trong người khác

Tôi là một quang nhân
Tôi sống để cho đi điều dễ chịu
Tôi sống để chiếu soi ánh sáng tình yêu đến người khác
Tôi sống để chữa lành
Tôi sống để cho đi hy vọng
Tôi sống vì chân lý
Tôi sống để yêu.

Linh hồn tôi nhận ra linh hồn bạn, tôi trân trọng ánh sáng, tình yêu, nét đẹp, sự thật, và lòng tốt trong bạn bởi vì nó cũng ở trong tôi, chia sẻ những điều này không có khoảng cách và sự khác biệt giữa ta, ta giống nhau, ta là một.

 

“Nhưng theo một định luật đầy hảo ý của Vũ trụ – bản thân nó là thể hiện hoàn chỉnh nhất của Thiên luật – thì về lâu về dài sự Thật có sức mạnh khống chế đến nỗi nó sẽ chiếm ưu thế. Đó là cái bình bằng sắt trôi nổi giữa dòng trà trộn vào những bình bằng đất sét, lần lượt phá vỡ từng cái bình bằng đất sét một mặc dù chúng nhẹ hơn nên nổi trên mặt nước và được trang trí lòe loẹt bên ngoài. Các nhà khảo cổ học và địa chất học đáp lại lời chế nhạo của kẻ phê phán bằng cách làm việc cật lực gấp đôi và đào sâu gấp hai lần; thế là rốt cuộc chúng ta thu được từ dưới đất bằng chứng không ai chối cãi được cho thấy địa chất học là một sự khải huyền của Ý chí đấng Sáng tạo đúng hơn Kinh thánh, và sự tiến bộ của loài người thay vì đi theo đường thẳng thì lại đi đường vòng.”

Chúng ta tự hào với dinh thự Quốc hội ở Washington, điện Louvre, tòa nhà Hạ nghị viện, Doumo ở Milan, nhà thờ thánh Peter ở Roma, đường hầm ở sông Thames, kinh đào Suez; và chúng ta hảnh diện chỉ trỏ nó coi là thắng lợi của tài khéo kiến trúc; nhưng khi so sánh với các di tích ở Karnak và Luxor, so sánh với Kim tự tháp và con Nhân sư; so sánh với Mê cung và hồ Meuris thì chúng dường như chỉ là trò trẻ con vô nghĩa. Champollion (ông trải qua suốt đời ở Ai cập và chưa hề bị ai thách thức đối với những phát biểu chính xác) có nói: “Không một dân tộc thời xưa hoặc thời nay đã quan niệm ra được thuật kiến trúc trên một qui mô tinh vi – hùng vĩ – như đã từng tồn tại ở Cổ Ai cập và óc tưởng tượng mà ở Âu châu cũng chỉ bay vút lên tới tận những hành lang có cột thì cũng bị khựng lại và chới với dưới chân 140 cái cột của mái vòm có cột chống ở Karnak”.

Nhà thờ chính Notre Dame chỉ chiếm một góc nhỏ thuộc một trong những sảnh đường của đền thờ và đó không phải là sảnh đường dài nhất, trong khi diện tích các bức tường của nó rộng lớn đến nỗi bao trùm các hòn non bộ và những hồ nước cỡ lớn. Herodotus – ông sống vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên được gọi là “Cha đẻ của Khoa học Lịch sử” và được Bách khoa tự điển Britannica nói rằng: “Không có một nhà lữ hành nào có khả năng sàng lọc những điều mà mình đã quan sát nhiều hơn ông, biết bảo tồn những gì có giá trị và vứt bỏ những gì ngớ ngẩn vô dụng – ông được phép khảo sát một số buồng trong Mê cung ở phía trên mặt đất; nhưng 1500 buồng dưới đất vốn là lăng mộ của các vị vua vẫn được giữ linh thánh không cho kẻ phàm phu léo hánh tới. Những bức tường và trần nhà của các dinh thự này đều được sơn bằng những màu sắc mãi tới nay vẫn còn giữ được vẻ đẹp nguyên sơ và được trang trí bằng những tượng điêu khắc tinh vi đến nỗi muốn dõi theo chi tiết của chúng thì phải dùng kính lúp.

(Eastern Magic and Western Spiritualism)

Tác giả H. S. Olcott
Bản Dịch Hạnh Như – 2009

http://www.thongthienhoc.com/sach%20phap%20thuat%20dong%20phuong%20va%20than%20linh%20hoc%20tay%20huong.htm

“Mục đích của bài thuyết trình này là không phải xâu xỏ lại nhiều câu chuyện huyền hoặc để mua vui cho óc hoang tưởng hoặc để nghe cho lọt tai mà chỉ nhằm nêu rõ các sự kiện nghiên cứu của ta về những hiện tượng hiện đại này đã đi chệch hướng. Cũng như các nhà khoa học và thần học, chúng ta đã quay nhìn bên phải bên trái, bên trên và bên dưới để tìm cách giải thích định luật thiên nhiên mà lại quên mất Quá khứ. Chúng ta dường như không tưởng tượng được cái mà Hume gọi là “tổ tiên dốt nát” của ta lại có thể biết được một điều gì đó đáng cho ta khảo cứu.

Chúng ta thật ngớ ngẩn như một kẻ du hành toan tính nghiên cứu ngôn ngữ hoặc địa lý của một xứ sở không quen biết mà lại không thử hỏi xem liệu có hay chăng một thứ gì đó là ngữ pháp, từ điển, ngữ vựng hoặc bản đồ của xứ ấy. Chúng ta đã tham dự những buổi lên đồng hết tuần này sang tuần khác, hết tháng này sang tháng kia, hết năm này sang năm khác, há hốc mồm trước những điều kỳ diệu mới mẻ, nuốt trọn những gì được mớm cho ta mà chẳng bao giờ lục lọi những quyển sách cũ, lục soát những thư viện cũ để xem tổ tiên ta có biết gì về cái loại sự việc ấy chăng.

Chúng ta sẵn lòng trả lời những sự chế nhạo và chọc ghẹo của các bạn chính thống giáo bằng cách trích dẫn để họ thấy cả chục đoạn trong Kinh thánh cho thấy chẳng những là có xuất hiện mọi loại hiện hình quen thuộc với ta từ những tiếng gõ cho tới “sự hiện hình” trong đám người Hebrew, nhưng việc phát biểu quan trọng cho rằng chính những dấu hiệu này có đi kèm theo “Ki Tô hữu” chân chính thì bao giờ cũng chậm trễ. Ở đây có hai quyển sách lớn mà người bạn bác học của tôi là Tiến sĩ Crowell đã viết ra để triển khai chính ý tưởng này.

Nhưng mãi cho tới gần đây cả ông ta lẫn bất cứ người nào đó trong số chúng tôi đều không ngờ tới việc cái mà ta đã nghe gọi là Pháp thuật Đông phương thì cũng y hệt như Thần linh học của Mỹ, chỉ có điều là tốt hơn mọi mặt. Không một ai trong chúng tôi ngờ được rằng các lực huyền bí mà chính các nhà khoa học và chúng ta đã nói hươu nói vượn để phản ánh chúng, lại có thể được quyền năng ý chí của con người kiểm soát để tạo ra mọi sự biểu lộ mà ta đã biết và hàng chục thứ mà ta chưa hề chứng kiến.”
H. S. Olcott

 

“Bằng chứng tốt nhất mà bạn có được là thuở xưa, mọi sự thờ phượng thuộc tôn giáo hoặc triết học đều gồm có phần bí truyền hay mật và phần công truyền hay hiển. Vả lại ở khắp các quốc gia, mọi người đều biết Huyền linh học của người xưa gồm có: “Huyền linh học thượng đẳng “(mật) và “Huyền linh học hạ đẳng” (hiển), thí dụ các nghi thức trang nghiêm, hữu danh được gọi là Eleusis ở Hy-Lạp. Từ các vị Đại tư giáo ở Samothrace Ai-Cập, các Bà-la-môn thụ pháp của xứ Ấn-Độ, đến các pháp sư Hy-ba-lai (Rabbins Hébreux), tất cả đều có thiện ý giữ gìn bí mật tín ngưỡng chân thật của họ vì sợ tội phạm thần. Các pháp sư Do-thái gọi lý thuyết về tín ngưỡng ngàn xưa của họ là Mercavah (cái thể bên ngoài), là “công cụ truyền đạo” hay lớp vỏ chứa đựng linh hồn ẩn tàng, đây là sự hiểu biết bí nhiệm, cao cả nhất của họ. Các tăng lử thuộc nhiều quốc gia cổ không bao giờ truyền dạy giáo lý nội môn thật sự của họ cho dân chúng. Họ chỉ tiết lộ những gì thuộc phần ngoài của giáo lý mà thôi. Phật giáo Bắc tông đã có phương tiện để truyền đạo: “thượng đẳng” và “hạ đẳng” được biết dưới danh từ Đại thừa (Mahayana), hoặc Trường Bí truyền, và Tiểu thừa (Hinayana) hay Trường Công truyền. Người ta không thể nào khiển trách sự phân chia ra công truyền và bí truyền của họ được, bởi lẽ làm sao cung cấp những bài nghị luận uyên bác cho các con cừu, thay vì cho chúng nó cỏ. Đức Pythagore gọi Minh Triết Học của Ngài là “sự tri thức của hiện vật”; Ngài truyền dạy cho các đệ tử hữu thệ vì đó là thực phẩm tinh thần rất thích hợp và vì họ cũng đã nguyện giữ im lặng, kín đáo nữa. Các mẫu tự huyền bí và các con số mật nhiệm trích ra từ các tế văn cổ Ai-Cập mà ngày xưa, chỉ có các tu sĩ trong tự viện, hoặc các tăng lữ thụ pháp Ai-Cập được truyền cho bí quyết để mở mang trí thức thôi. Theo các sử gia viết về ông Ammonius Saccas thuật lại, thì các đệ tử của Ammonius bị bắt buộc thệ nguyện giữ cẩn mật giáo lý thượng đẳng của ông, ngoại trừ những người đã được thụ huấn về sự tri thức sơ khởi; tuy nhiên họ cũng đã bị ràng buộc bởi lời thệ nguyện. Cuối cùng, có thể nào người ta lại không thấy sự khác nhau giữa giáo lý bí truyền và công truyền trong học phái Duy Trí, trong Cơ Đốc giáo nguyên thủy, và chính trong các giáo huấn của Đức Christ hay sao ?

Đức Christ chẳng nói trước đám đông rằng các ngụ ngôn đều có hai nghĩa, và Ngài đã không giải thích những ẩn ý cho đệ tử duy nhất của Ngài hay sao? Ngài nói với họ : “các người được phép hiểu biết sự huyền nhiệm của Thiên Quốc, nhưng đối với người ngoài, ta chỉ luận giải bởi ngụ ngôn thôi”.(Marc IV,II). Các vị Esséniens ở Judée và ở Carmel cũng thực hiện sự phân chia tương tự, nghĩa là họ chia các môn đồ ra hai hạng: hạng tân tín đồ hoặc huynh đệ, và hạng hoàn toàn hoặc thụ pháp (Philosophie Eclectique) . Ở khắp các quốc gia, người ta có thể kể ra nhiều thí dụ tương tự như vậy.”

 

http://thongthienhoc.com/sach%20bi%20quyet%20tthoc.htm

Nếu chúng ta có thể nhờ một cơ quan thông tấn tập trung các kinh nghiệm cá nhân rải rác trên thế giới về cõi vô hình, chúng ta sẽ tin sự thực tại của cõi nầy ngay. Các kinh nghiệm riêng của mỗi chúng ta đều rất ít và cũng không vững chắc, nhưng khi được tập hợp lại, chúng là những bằng chứng hùng biện. Đôi khi chúng ta thấy được một điều lạ hoặc có một điềm chiêm bao lý thú, chúng ta nhớ nó trong một thời gian, thuật cho bạn bè nghe hoặc thảo luận về ý nghĩa và tầm quan trọng của nó, nhưng không bao lâu, nó chìm trong sự lãng quên. Dĩ nhiên, thường nó không có giá trị bao nhiêu và cũng không dạy ta được nhiều. Nhưng khi chúng ta đọc qua các sự việc mà các hội thần linh đã thu góp được, chúng ta sẽ nhận định rõ ràng rằng toàn thể nhân loại đang tiếp xúc với một cõi tâm linh mênh mông và phức tạp.

Sự diễn tả các hiện tượng xa xôi nhờ huệ nhãn đột phát trong phút chốc; những lời tiên tri về các nguy tai sắp đến; việc các vong linh hiện ở những ngôi nhà xưa; những điềm chiêm bao sáng suốt báo đúng những việc xảy ra; những cảm hứng đến bất ngờ cho các bậc thiên tài hay chí sĩ, các việc ấy và nhiều việc khác nữa chỉ rằng con người vĩ đại hơn chúng ta tưởng và thế giới chúng ta được lồng trong một cõi giới thanh cao. Chúng ta không cần có quyền nầy, phép nọ mới ý thức được thực tại của cõi vô hình.

NHỮNG ẢNH HƯỞNG TẾ NHỊ CỦA CÕI VÔ HÌNH

Từ giây, từ phút chúng ta chịu ảnh hưởng của cõi vô hình ấy. Bất cứ lúc nào, tư tưởng và tình cảm của kẻ khác tác động ở tâm ta khiến ta suy tư, cảm xúc và hành động trái với chân tánh của chúng ta. Thường, chúng ta không ý thức được căn nguyên của các tư tưởng đó và cho rằng chúng nó phát xuất từ lòng ta.

Điều nầy được chứng minh do một việc xảy ra cách đây một vài năm. Một hôm, trên con tàu chạy ngang qua vịnh San Francisco, một người đàn ông đang bình tĩnh đọc sách. Bỗng nhiên, ông thấy tâm trí ông bị kích thích mãnh liệt và sợ hãi. Ông lấy làm lạ vì quyển sách của ông đang coi không có tính cách kích thích ấy. Ông ngước mắt lên và thấy một bà mẹ đang hoảng hốt chạy theo bao lơn và sắp té xuống biển. Như vậy, sự hoảng hốt đến cho ông không phát xuất từ tâm ông mà do người đàn bà nầy.

Những người suy tư với tư tưởng riêng của mình rất ít. Tư tưởng của đa số là tư tưởng rút trong bầu tư tưởng bao quanh chúng ta. Ngược lại các tư tưởng của chúng ta không phải chỉ liên hệ đến ta mà thôi, chúng nó gia nhập vào khối tư tưởng cộng đồng của nhân loại. Người khôn ngoan điều hòa tâm mình với các ý tứ thanh cao, các tình cảm trong sạch, và chỉ thu nhận chúng nó mà thôi. Người là một cái máy lọc phân tích sự thanh khiết của tư tưởng cao thượng ra khỏi sự ô trược của dục vọng thấp hèn.

SỰ HIỆN DIỆN CỦA CÕI VÔ HÌNH

Chúng ta hiện nay đang chìm đắm trong đời sống vật chất nên khó mà ý thức được sự hiện diện của cõi vô hình mà chúng ta không nghe, không thấy, không nếm, không ngửi được với các giác quan phàm tục của chúng ta. Nhưng cõi ấy còn thật hơn cõi trần nhiều, mặc dầu các rung động tế nhị của nó không lưu một dấu vết chi trên vật chất thô kịch của các giác quan chúng ta.

Chúng ta biết rằng mỗi tháng trong một thời gian nào đó mặt trăng có thể thấy được vào lúc ban ngày. Chúng ta thấy con trăng lưỡi liềm ấy mà không ngờ đến ánh sáng của nó đang bao trùm chúng ta. Chúng ta chỉ thấy có ánh sáng mặt trời. Nhưng khi mặt trời lặn thì cảnh vật hiện ra dưới ánh trăng êm ái, dịu dàng. Thật sự, thì trong suốt thời gian ấy, ánh trăng lúc nào cũng có, nhưng về ban ngày, thì chúng ta không thấy được.

Cõi vô hình cũng y như vậy. Lúc nào, nó cũng hiện diện nhưng chúng ta không ý thức được nó vì chúng ta hoàn toàn chìm đắm trong ngoại cảnh. Khi nào chúng ta trấn an được giác quan phàm tục và tâm trí hỗn loạn của ta, chúng ta sẽ nhận được các rung động vi tế của cõi vô hình và ý thức được nó.

TẠI SAO TA KHÔNG NĂNG LINH – TẤM MÀN BƯNG BÍT 

Một khi ta nhận thức rằng có một cõi vô hình bao quanh chúng ta, rằng ban đêm chúng ta hành động trong cõi đó một cách ý thức khi thể xác ngủ, rằng lý do duy nhứt khiến ta không nhớ các hành động nầy là thần kinh hệ của chúng ta không có cảm lực cần thiết, chừng đó ta cảm thấy có một bức màn bưng bít chúng ta và chúng ta muốn vén nó, xé nó, vứt nó. Nhưng ta hãy dè chừng đừng để sự thèm khát hiểu biết làm hại chúng ta. Nếu toàn thể nhân loại không trở thành năng linh là vì có những lý do quan trọng, những qui luật sáng suốt do Ơn Trên sắp đặt.

Một người mang cho chủ một đóa hoa sen còn đọng sương đêm vừa hé nhụy. Y được lệnh đem ngâm hoa trong nước, nhưng vì muốn đẹp lòng chủ, y mở các cánh hoa mịn màng để lộ nụ gương tươi thắm. Sau đó vài giờ, cánh hoa trở nên úa và tím mặc dầu hoa được để trong nước.

Nếu chúng ta khai mở quyền năng của chúng ta sớm quá, chúng ta sẽ trở nên suy kém, tàn úa như vậy. Chúng ta không nên làm hỏng bộ thần kinh tế nhị hay thí nghiệm phương pháp nầy nọ với khối óc chúng ta. Một công phu sai lạc, một cố gắng quá nhiều có thể gây thương tích trong cơ cấu phức tạp của bộ thần kinh khiến cho ta bịnh hoạn suốt đời. Chúng ta cần hiểu rõ ràng những điều ta phải làm trước khi đánh thức các quyền năng tiềm tàng của ta; chúng ta hiểu rõ phương pháp khai mở nầy và kết quả của nó ra sao, nếu không chúng ta sẽ lâm nguy.

CÁC LỜI KHUYÊN NGUY HIỂM

Chúng ta không nên nhắm mắt tin theo những lời chỉ bảo nầy nọ trong hằng ngàn quyển sách xuất bản khắp nơi vì các lời chỉ bảo ấy thường sai lầm và nguy hại. Chúng ta nên biết rằng khoa tâm linh hiện được rất đông người chú ý nên sách vở của khoa nầy xuất hiện rất nhiều nhưng giá trị thì chẳng bao nhiêu. Cả trăm quyển sách nầy viết ra không phải để dìu dắt độc giả một cách hữu ích mà để thỏa mãn tánh hiếu kỳ thôi. Tác giả những quyển sách đó không nghĩ đến tai hại của những điều chỉ dạy của họ : mục đích của họ là bán sách chạy và kiếm tiền.

Những sách họ sưu tầm là những sách Ấn Độ nói về bùa chú, phù phép không được các bực tu sĩ chân chính tín nhiệm. Họ hấp tấp đọc qua và rút các cách tập luyện thân thể nhằm mục đích đánh thức các quyền năng tâm linh thấp kém rồi trình bày lại cho các độc giả dễ tin dưới những tựa huyền bí, hấp dẫn.

Đó là lời chỉ bảo của nhiều nhóm được gọi là “huyền môn”. Cả ngàn người theo những lời chỉ bảo ấy hay các giáo lý khác tương tự được trình bày trong sách cho đến khi tai hại xảy ra.

Sự chế tạo chất nổ rất nguy hiểm nên không ai bắt tay vào công việc nầy mà không tìm hiểu cặn kẽ, không tham khảo ý kiến của các nhà chuyên môn. Về sự luyện tập tâm linh, tuy công việc không kém phần nguy hiểm, nhưng nhiều người vì một lẽ bí mật nào đó, tưởng mình hiểu biết tất cả và tin ở mình hoàn toàn. Họ cho mình xét đoán không sai lầm và không ngần ngại tập luyện. Có lẽ vì đó mà biết bao người đã loạn trí ở Tây phương.

PHẢI SÁNG SUỐT 

Về các công việc nghiên cứu tâm linh, chúng ta phải xét đoán hợp lý, phải tỏ ra sáng suốt y như chúng ta giải quyết các công ăn việc làm. Trước một tin tức tâm linh, ta phải phân tích, đắn đo như đối với một bức thư quan trọng. Ta không cần phải nhắm mắt tin tưởng với sự ngưỡng mộ, tôn sùng. Trái lại, ta phải sử dụng tất cả khả năng xét đoán của ta.

Có những người thông minh, khi sang qua lãnh vực tâm linh thì dường như mất quan năng suy luận. Vì vậy họ tán dương những điềm chiêm bao của họ như là những cuộc tiếp xúc với các bậc siêu phàm, họ cho những phản ứng xấu xa của óc tưởng tượng hỗn loạn là những hoạt động quỉ quái của bọn phù thủy, và gán cho một chơn sư linh hiển, những lời mộc mạc, tầm thường nổi lên ở tâm họ. Phải đợi nhiều năm họ mới trở nên bình thường trở lại, vì vậy thái độ hoài nghi chơn chánh còn hơn là sự tin nhảm của một số người.

HÃY TỰ BIẾT MÌNH

Trên phương diện huyền môn, có biết bao phương pháp luyện tập, đúng cũng có, sai cũng nhiều, và người nào muốn thành công cần áp dụng lời khuyên của Socrate chạm ở ngưỡng cửa đền Delphes : “Hãy biết mình”.

Sự tự biết mình đòi hỏi chẳng những nhiều năm nghiên cứu an tĩnh và thâm diệu, và cả công việc giúp đời, vì ban cho và phụng sự có đặc tính mở mang các quan năng tâm linh. Trong tâm ta, có những quyền năng vi diệu mà chúng ta chưa dò, những năng lực mà chúng ta chưa biết, những nguồn năng lực mà chúng ta chưa ý thức được sự hùng hậu. Có những cõi rất cao ở tâm ta mà chúng ta không ngờ nhưng có thể đạt, và vì vậy, người chí nguyện không lùi chơn trước một trở ngại nào. Đó là mục đích của các kiếp sống chúng ta ở cõi trần.

SỰ NĂNG LINH QUÁ SỚM 

Có những lý do quan trọng khiến các quan năng tâm linh của chúng ta không mở sớm. Một cách hay nhứt để hại một người nào là giúp cho y cảm xúc được ảnh hưởng và năng lực của cõi vô hình. Tạo Hóa rất sáng suốt và nếu các định luật thiên nhiên được tôn trọng thì không bao giờ một quan năng tâm linh có thể mở nếu chúng ta chưa sử dụng nó được. Chúng ta không nên ao ước một sự phát triển tâm linh quá sớm vì nó chỉ đem lại sự đau buồn.

Nếu chúng ta không thuộc các bài học của cõi trần và rèn luyện tánh can đảm, sự bền chí, đức vị tha, lòng thanh bạch, sự sáng suốt và tình thương thì cần chi phải thám hiểm cõi bên kia ? Chúng ta sẽ có cái thái độ điên cuồng của một nhà thám hiểm quyết đi sâu vào rừng già Phi châu mà không mang theo khí giới. Chúng ta nên thành thật nhìn nhận rằng chúng ta chưa được sẵn sàng hơn là để thất bại vì chưa chuẩn bị.

CÁC LOẠI ẢNH HƯỞNG TÂM LINH 

Một trong những ảnh hưởng khủng khiếp nhứt mà ta phải chịu và không sao thoát ra được vì đã mở quan năng tâm linh quá sớm là ảnh hưởng gây ra do một vong linh hung dữ. Chúng ta đinh ninh rằng khi hành quyết một kẻ sát nhân, chúng ta chấm dứt hành động tàn ác của y. Nhưng sau khi chết, con người không phải bỗng nhiên trở nên thánh thiện và cũng không đi xa. Những người đạo hạnh sau khi từ trần, sẽ lên các từng cao của cõi vô hình. Trái lại, các từng thấp ở gần quả đất thì đầy dẫy những nhân loại cặn bã đã từng gây án mạng hay đam mê dục lạc lúc sinh tiền. Với mục đích thỏa mãn các dục vọng đê hèn đang giày vò mình, họ ám ảnh người sống nhứt là những người nghiện rượu và xúi giục họ làm những điều bẩn thỉu. Những người năng linh quá sớm sẽ chịu ảnh hưởng khốc hại nầy mà không thể chống đỡ được vì còn non nớt và chưa có kinh nghiệm cần thiết.

Một lý do khác khiến Tạo Hóa từ chối quan năng tâm linh cho các người chưa được chuẩn bị là sự hiện diện ở chung quanh chúng ta những sinh linh kém tiến hóa hơn nhân loại. Các sinh linh nầy chống đối với nhân loại nhưng không thể làm hại nhân loại được vì lẽ chúng thuộc cõi vô hình, trừ khi nào con người tự đặt mình dưới ảnh hưởng của chúng bằng cách khai mở quan năng tâm linh quá sớm : đó là một bài học rất đau khổ.

Ngoài ra, chúng ta đừng quên rằng khi quan năng tâm linh thức động, ta sẽ cảm xúc được những tư tưởng, tình cảm và dục vọng phóng ra trong cõi vô hình, dưới hình thức những rung động, do hằng triệu con người sống tụ tập ở các đô thị. Quả thực, chúng ta sống trong một biển hình ảnh xuất phát liên tiếp từ trí óc linh động của loài người, và chúng sẽ xâm chiếm tâm trí ta để gây nhiều tai hại nếu chúng ta không kiểm soát và chủ trị được quan năng trí thức của chúng ta. Sự xâm chiếm nầy sẽ trở nên một ác mộng cho những ai tu tập sai đường, vì tư tưởng, tình cảm quay cuồng trong một thành phố lớn thường ích kỷ, tham lam, duy vật, trụy lạc, gian xảo, thù hận, chỉ thỉnh thoảng mới có màu sắc tươi đẹp, sáng sủa của tình thương và của hoài vọng tinh thần.

MÀN BẢO VỆ 

Đến đây, chúng ta đề cập tới một trong những phát minh quan trọng nhứt của huyền môn học : phương pháp giản dị và hữu hiệu nhờ đó Tạo Hóa ngăn cản sự khai mở quá sớm các quan năng tâm linh.

Ai có học về điện đều biết rằng nếu ta bao hai đầu một sợi dây dẫn điện bằng sáp và ráp hai đầu dây lại thì luồng điện không chạy qua được. Nhưng nếu ta gỡ sáp đó ra dù chỉ chút ít thôi, thì điện xẹt ra ngay.

Cơ cấu tâm linh của con người cũng giống như thế. Trong thể vía và thể phách của chúng ta, có những trung tâm được đặt để như thế nào chúng gần như đụng các trung tâm tương ứng của thể xác. Nếu các sinh lực của cõi vô hình có thể đi xuyên qua các trung tâm của thể vía và thể phách để ảnh hưởng các trung tâm của thể xác thì các cơ quan năng linh thức động.

Tạo Hóa sáng suốt tránh sự thức động bằng cách đặt một màn lưới mỏng phân cách các loại trung tâm để ngăn cản luồng sinh lực chạy xuyên qua các thể. Màn lưới ấy được tạo bằng một lớp nguyên tử hồng trần ép chặt [2]. Nó để các sinh lực nuôi dưỡng các thể lưu thông dễ dàng qua nó và chận đứng các loại ảnh hưởng khác trừ khi nào nó bị rách.

Khốn thay, một vài phương pháp gọi là tâm linh được dạy ở Tây phương trong các Trường Huyền Môn trục lợi lại làm hại cái màn lưới bảo vệ ấy. Có phải chăng vì vậy mà các trường hợp điên cuồng gia tăng ?

SỰ NĂNG LINH : MỘT SỰ THẬT KHẮC KHE 

Sự năng linh đã được nghiên cứu từ xưa ở Ấn Độ cũng như ở các trường huyền môn chân chính và lần lần trở nên một khoa học chân xác.

Những ai biết sự năng linh không phải là một trò tiêu khiển mà là một sự thật khắc khe thì không khi nào dám nghĩ đến sự luyện tập cầu may của một số người Âu Mỹ. Là vì nếu họ biết khoa ấy giúp ích rất nhiều cho những người đã được chuẩn bị và hội đủ những đức tính cần thiết thì cũng gây rất nhiều tai hại cho những kẻ chưa sẵn sàng.

Một nhà huyền môn chân chính không khi nào dạy cách phát triển năng linh cho những người ích kỷ, tục tằn, vì dạy như thế chẳng khác nào đưa chất nổ cho trẻ con. Một người như vậy chẳng những ngăn trở sự tiến hóa của họ trong nhiều kiếp mà còn gây đau khổ cho kẻ khác với ý chí ích kỷ của mình. Cho đến khi nào chúng ta chưa sử dụng được các khả năng sẵn có của chúng ta vào những mục đích vị tha thì ta không nên đòi hỏi thêm điều chi nữa.

Sự năng linh chỉ có tính cách quí báu khi nào hành giả đứng đắn, tinh tấn, bền chí nhứt là vị tha.

 

 

(Kiêm Đạt)

Hầu hết kinh điển Mật Tông đều nhấn mạnh rằng: Những mật chú đều là những chân ngôn của chư Phật và chư Bồ Tát có giá trị nhiếp tâm và truyền giảng vô lượng. Mật Chú giúp đỡ cho chúng sinh xa lìa tham, sân si, là những độc hại trong việc tu hành. Việc trì tụng những mật chú sẽ tiêu trừ các tai ương, giải cứu những ách nạn, đưa con người thoát khỏi cảnh giới sa đoạ. Thành thử, kiên tâm trì tụng với tất cả tâm thành, kết quả tốt đẹp không biết đâu lường được.

Kinh Chuẩn Đề Đà Ra Ni của Mật Tông dạy những phương pháp trì tụng và nói về công năng của việc trì tụng những Chân ngôn. Có đến 10 bộ kinh dạy về Chân ngôn, từ thấp đến cao, mà trong ứng dụng bất cứ trình độ nào cũng tu tập được. Khi trì tụng lâu, sẽ được ứng hiện trong mộng tưởng.

Kinh Chuẩn Đề dạy rằng: “Tu tập vững vàng sẽ tạo mộng lành. Hoặc mộng thấy chư Phật, Bồ Tát, Thánh Tăng, Thiên Nữ. Hoặc mộng thấy tự thân bay lên hư không một cách tự tại. Hoặc vượt qua biển lớn, hoặc trôi nổi trên sông Giang Hà, hay lên lầu các, hoặc lên cây cao hoặc trèo lên núi tuyết, hoặc chế ngự được voi, sư tử, hoặc thấy nhiều hoa thơm cỏ lạ. Cũng có thể mộng thấy là vị tu hành, sa môn. Hoặc nuốt bạch vật, nhả ra hắc vật. Hoặc thâm nhập vào tinh tú, thiên hà…”. Trong khi trì tụng kinh điển này, thường phát ra ánh sáng lạ kỳ, do Phán nhãn mang lại. Có người thấy lạc vào cõi Tịnh Độ, cảnh giới giải thoát hoàn toàn. Cũng có người thấy được kiếp trước của mình.

Nội dungBộ kinh trên có giành phần lớn để nói về các Thần Chú: bản văn Thần Chú và công năng của Thần Chú. Thần Chú không sử dụng tùy tiện được. Phải có đức giác ngộ mới đọc Thần Chú có hiệu quả. Mật Tông nói về trường hợp nhiều đạo sĩ dùng những Thần Chú không đúng hướng gây tác hại: chẳng những không đạt được kết quả theo ý muốn, mà còn gây thêm những nguy hiểm khôn lường được.

Nội dung các Thần chú này được phân chia ra 9 phẩm. Mỗi phẩm có sức nhiếp phục và sở cầu khác nhau:

Nội dung 3 phẩm đầu

Hạ Phẩm: nếu thành tựu hạ phẩm của Thần Chú, thì có thể năng nhiếp phục tất cả tứ chúng, phàm có sở cầu điều gì thì đạt được, sai khiến được nhiều hạng, kể cả Thiên Long cũng thuần phục. Những Thần Chú này lại còn có thể hàng phục được 45 loại trong các “trùng thú” và “quỷ mị”.

Trung Phẩm: Khi thành tựu được việc dùng Thần Chú của Trung Phẩm, sẽ có công năng sai khiến được tất cả Thiên Long, Bát Bộ, khai mở những “bảo tàng” dấu kín. Cũng có thể đi vào trong Tu La Cung, Long Cung… bất cứ trong trường hợp nào.

Thượng Phẩm: Nếu thành tựu được phần Thượng Phẩm, sẽ có được những khả năng phi thường: hoặc dùng phép khinh thân để chu du khắp nơi, cũng có thể dùng đến thuật “tàng hình” để tránh tai biến.

Nội dung 3 phẩm giữa

Hạ phẩm: Nếu thành tựu hạ phẩm của phần này (Trung Độ) sẽ điều hành được nhiều cảnh giới, tái sinh trong vô lượng kiếp, phúc huệ chiếu sáng trong 3 cõi, hàng phục chúng ma.

Trung phẩm: Nếu thành tự phẩm này, thì có sức thần thông qua lại các thế giới khác, có khả năng chuyển hoá Luân Vương, trụ thọ trong nhiều kiếp sau này.

Thượng phẩm: Nếu thành tựu phẩm này, sẽ hiệu chứng được nhiều phép lạ, từ Sơ Địa Bồ Tát trở lên.Trung độ là trình độ khó thành; chỉ những bậc cao tăng nhiều kiếp mới nhiếp phục được 3 phẩm này.

Nội dung 3 phẩm cuối

Hạ phẩm: Nếu thành tự phẩm này, sẽ đạt được Đệ Ngũ Địa Bồ Tát trở nên.

Trung phẩm: Nếu thành tựu phẩm này sẽ đạt được từ Đệ Bát BồTát Địa trở lên.

Thượng phẩm: Nếu thành tựu phẩm này, thì Tam Mật sẽ biến thành Tam Thân. Trong cảnh giới hiện tại thì có thể chứng quả “Vô Thượng Bồ Đề”.

Ứng dụng những Mật Chú

Những nhà tu hành Mật Tông dùng những Mật Chú trong những trường hợp cần thiết nhất và cũng hạn chế nhất để tránh những tác hại khác. Một trong những loại Mật Chú quan trọng và thông dụng là Mật Chú Đà Ra Ni (Dharani). Theo nguyên nghĩa thì Đà Ra Ni là bảo tồn, gìn giữ, chống lại những lôi cuốn khác bất cứ từ đâu tới. Những Mật Chú này dùng để khống chế vọng tưởng và vọng động. Trong một giá trị khác, Mật Chú Đà Ra Ni sẽ phát huy đạo tâm của hành giả đứng trước những thử thách nghiêm trọng. Tà ma, ngoại đạo đều bị Mật Chú Đà Ra Ni chế ngự ngay từ bước đầu. Dùng Mật Chú không thể khinh thường và thiếu cẩn trọng. Chỉ trong những trường hợp khổn cùng, cấp bách, không thể thoát khỏi tai kiếp thì mới đọc lên.

Mật Chú Đà Ra Ni còn được gọi là “chân ngôn” hay “chân kinh” tức là những câu nói ngắn nhưng rất vi diệu, chân thật, “bất khả tư nghị” của chư Phật hay chư Bồ Tát. Mật Chú không thể giải nghĩa được hay lý luận được. Những buổi lễ quan trọng nhất của Mật Tông mới được dùng những Mật Chú này. Công dụng chính là đưa những sức huyền diệu, anh linh của vũ trụ đi vào trong nội tâm của con người. Mật Chú cũng có thể tiêu trừ những bệnh khổ do Tứ Đại gây ra. Những bệnh do Ngũ uẩn, hay do quỷ thần gieo rắc cũng có thể giải cứu bằng Mật Chú được. Cũng như Đàn Tràng (hay Đàn Pháp) (Mandala), Mật Chú có công dụng vô biên, khó lường được. Nhiều người coi thường Mật Chú và Đàn Tràng, cho nên khó giải thoát. Hiển Mật Viên Thông có chép rằng: “Ba đời của đức Như lai, chưa hề có vị Phật nào không theo Đàn Pháp mà thành Phật Đạo”.

Lời dạy này mang hai ý nghĩa: (a) Mật Chú và Đàn Pháp vốn rất huyền diệu (b) Chỉ dùng đến hai loại này trong trường hợp cần thiết nhất mà thôi.Giá trị của Mật Chú Đà Ra Ni không thể lường được. Chẳng hạn như một cao tăng tụng Mật Chú với tất cả lòng thành của mình thì sẽ tiêu trừ những nghiệp chướng rừng vướng mắc vào nội tâm hay từng gây tai họa lớn lao. Sức tiêu trừ này khó hình dung được, nhưng giải toả được những nguy hiểm do tha nhân tạo nên.

Những cao tăng Tây Tạng ít khi nói đến những Mật Chú. Theo họ, một giới tử nào vọng động trong việc dùng Mật Chú, tưởng là cứu cánh tu hành, sẽ bỏ mọi khả năng tu tập chính của mình để học Thần Chú. Mật Chú chỉ được dùng như là cẩm nang tối hậu chỉ được mở ra thực hiện trong một thời điểm cần thiết nhất. Một giới tử sau khi được Điểm Đạo hay Quán Đỉnh thì được nhắc nhở điều này.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm trong phần nói về công năng của những loại Thần Chú của Kim Cang Thừa (Tantra) có đoạn viết:- “Mật Chú của chư Phật vốn là phép bí mật. Chỉ có đức Phật với Phật tự biết với nhau mà thôi; các vị Thánh cũng không thể nào thông đạt về Chú được. Chỉ trì tụng là diệt được tội lỗi, nhanh chóng đạt được Thánh Vị” (Phẩm Chú Hạnh).
Trong một đoạn khác có viết: “Thần Chú là mật ấn của chư Phật: Những vị Phật và Phật truyền cho nhau, người khác trong cảnh giới nào cũng không thể nào thông hiểu được…”

Trong Hiển Thủ Bát Nhã Sớ viết: ” Chú là Pháp môn bí mật của chư Phật, không thể nào thấu hiệu được nhân vị của những lời Chú”. Viễn Công Niết Bàn Sớ khi luận về Thần Chú cũng viết: “Chân Ngôn chưa chắc là chuyên ngữ của người Thiên Trúc. Nếu đem ra phiên dịch thì lại không hiểu nổi, vì lẽ đó cho nên không thể nào phiên giải được…”.

Thiên Thai Chỉ Quán của Thiên Thai Tông cũng viết về các Thần Chú như sau: “Chỉ có bậc Thánh Thượng thì mới có thể nói đến (giải lý đến) 2 pháp: Mật và Hiển. Những kẻ phàm nhân chỉ có thể xưng tán được những lời kinh trong Hiển Giáo; còn về Mật Giáo thì không giải thích được. Đà Ra Ni, nhân vị của Thánh Hiền không thể nào hiểu giải được, chỉ có thể tin mà thọ trì mà thôi. Trì Chú thì có thể diệt được mọi nghiệp chướng, kết tựu được phước đức”. Theo những cao tăng của Mật Giáo, những Mật Chú (Mantras) là Viên Mãn, nếu giải thích ra chỉ là phiến diện, có thể sai lầm nữa. Thành thử không nên tìm cách để giải thích. Những kinh sách cho rằng: đây là guyên nghĩa của những câu Thần Chú chỉ là ngụy ngôn.

Mật nghĩa chỉ là “bất khả tư nghị”. Trong Pháp Hoa Sao Sớ có đoạn nêu rõ rằng: “Về Bí Pháp của chư Phật, thì không thể nào hiểu được ý nghĩa, cho nên được gọi là Mật ngôn”. Bát Nhã Tâm Kinh viết: “Tổng trì cũng như loại thuốc thần, như Cam Lộ, uống vào thì lành bệnh, nhưng khi phân tích trong đó có gì, là điều sai lầm. Tuy là mật ngôn, nhưng công dụng, giá trị của những lời Thần Chú này thật bao la”.

Theo Đà Ra Ni Kinh thì: “Thần Chú vốn là tối thắng, có thể giải trừ được tội lỗi của chúng sinh, giải thoát được sinh tử luân hồi, chứng quả Niết Bàn, an lạc pháp thân…”.

Khi tụng những câu Thần Chú, phải chú ý đến toạ bộ. Chẳng hạn như trì tụng Đại Tam Muội Ấn thì: “Lấy hai tay ngửa ra, rồi tay hữu để lên trên tay tả, hai đầu ngón cái giáp lại với nhau, để ngang dưới rốn”. Thực hiện việc trì tụng này, kết quả không lường được: Ấn này có thể diệt được tất cả cuồng loại, vọng niệm, điên đảo, tư duy tạp nhiễm. Còn khi chấp thủ về Kim Cang Ấn Quyền thì kết ấn như sau đây: “Lấy ngón cái để trong lòng bàn tay bấm tại đốt vô danh chỉ giáplòng bàn tay, rồi nắm chặt; sau đó tay phải cầm chuỗi ký số, miệng tụng: “Tịnh pháp giới chân ngôn” (108 biến).

Ấn này trừ được nội ngoại chướng hiện ra hay nhiễm phải; thực hành đúng đắn thì thành tựu tất cả công đức. Về Chuẩn Đề Chú thì kết ấn như sau: “Sau khi đảnh lễ (3 lạy) xong, thì hành giả ngồi kiết già. Lấy ngón tay áp út và ngón út bên mặt và bên trái xỏ lộn với nhau vào trong hai lòng bàn tay; dựng hai ngón tay giữa thẳng lên, rồi co hai ngón tay trỏ mà vịn vào lóng đầu của hai ngón giữa; còn hai ngón tay cái thì đè lên lóng giữa của ngón áp út bên mặt. Để ấn này ngang ngực.

Sau đó chí tâm tưng 108 lần câu chú “Chuẩn Đề” và chú “Đại Luân Nhất Tự” như sau: “Nam Nô Tát Đa Nẫm, Tam Miệu Tam Bồ Đề, Cu Chi Nẫm, Đát Điệt Tha. Án Chủ Lệ, Chủ Lệ, Chuẩn Đề, Ta Bà Ha – Bộ Lâm.”

Có thể trì tụng nhiều hơn nữa. Khi niệm số đã ấn định, muốn nghỉ thì xả ấn lên trên đỉnh, kế đó dùng tay mặt kiết ấn Kim Cang Quyền mà ấn theo thứ tự 5 vị trí như sau: 1) Trên đảnh đầu 2) Nơi vai bên trái 3) Ở vai bên mặt 4) Tại ngang ngực 5) Nơi yết hầu

Công chúa Kaoru Nakamaru là cháu gái của Nhật hoàng Meiji.

Đó là bài phát biểu của công chúa Nhật Bản Kaoru Nakamaru, trong Hội nghị Pythagoras Toàn cầu 2012 vào hôm 02/01/2012 vừa qua. Bà đã làm cả thế giới phải chấn động và suy ngẫm. Sau đây là nội dung bài diễn thuyết của bà:

Tôi là Kaoru Nakamaru, công chúa Nhật Bản. Vào năm 1976, tôi đã trải qua một trải nghiệm tâm linh kỳ diệu. Kể từ lúc đó, con mắt thứ 3 của tôi đã khai mở.

Vậy là… Tôi đã có thể giao tiếp với các vật thể bay lạ không xác định, và cả những chủng người sống trong lòng đất. Có tồn tại nền văn minh rất phát triển ở đó. Đặc biệt là lãnh đạo của chủng người “Lybraryan” sống dưới lòng đất. Và,… tôi cũng giao tiếp với họ.

Và từ tất cả những thông tin này, tôi tin chắc, rằng vào 3 ngày kể từ ngày 22/12/2012, Trái đất sẽ đi vào không gian chiều thứ 5. Có một nơi gọi là “Nuru”. Khi chúng ta vượt xuyên qua nơi đó, trong 3 ngày 3 đêm, chúng ta sẽ không thể sử dụng điện năng. Cả ngày lẫn đêm, sẽ hoàn toàn là bóng tối. Không mặt trời, không một vì sao, không chút ánh sáng nào. Chúng ta hoàn toàn sống trong bóng tối, suốt 3 ngày.

Không có phương tiện thông tin đại chúng nào thông báo thông tin này cho nhân dân trên thế giới. Những người giấu mặt đằng sau các chính phủ thì biết. Chỉ có họ là biết, và họ nghĩ rằng họ có thể an toàn.

Họ cố gắng rời khỏi hành tinh này hoặc xây dựng những thành phố ngầm trong lòng đất. Bên dưới Atlanta, Na Uy, Hà Lan, Thụy Sỹ, Úc… Khoảng 10.000 người uy quyền sẽ có thể được cứu sống nhờ trú ẩn ở đó.

Nhưng dù sao đi nữa, tôi không nghĩ là họ sẽ an toàn. Chúng ta phải làm thanh khiết tinh thần của mình, theo cả phương diện vật chất lẫn tâm linh. Tôi sẽ nói cho các bạn biết phải làm như thế nào. Điều đó rất quan trọng.

Đấng Toàn Năng, Đấng Tạo Hóa, hay Thượng Đế chính là ánh sáng, tình yêu, và năng lượng. Một phần năng lượng tình yêu đó chúng ta đều có ở trong tâm hồn mình. Chúng ta có thể lừa dối người khác, nhưng không thể tự dối mình.
Tôi sẽ gọi đó là ý thức lương tâm.

Mỗi con người đều có phần tuyệt đẹp ấy của Tạo Hóa trong trái tim mình. Phần đó sẽ tái sinh. Đó là sự sống vĩnh hằng mà chúng ta có ở bên trong.

Vậy là, để làm thanh khiết linh hồn mình, cứ tầm khoảng 5 năm hay đại loại thế, kể từ khi sinh ra, chúng ta có thể nhìn lại ý thức [lương tâm] ấy, xem chúng ta đã cư xử ra sao, suy nghĩ ra sao, nói năng như thế nào. Và tất cả những điều này có thể được làm trong sạch bằng cách tự kiểm lại đời mình cứ mỗi 5 năm một lần, mãi cho đến thời điểm hiện tại. Bằng cách đó, mỗi lần chúng ta tìm thấy việc nào đó, chúng ta đã làm điều gì đó có hại cho người khác, thì chúng ta có thể làm rõ nó và rồi thanh tẩy nó. Mỗi khi tìm thấy, tâm hồn chúng ta sẽ rộng mở ra.

Chúng ta có thể bày tỏ điều đó một cách sâu sắc, và mỗi lần chúng ta trải nghiệm điều đó, thì tất cả bóng đêm sẽ thoát ra khỏi tâm hồn ta, thay vào đó là ánh kim quang tràn vào. Như thế, chúng ta có thể nhìn thấy được càng ngày càng tốt hơn. Cho đến ngày 22/12/2012, thì chúng ta vẫn còn một ít thời gian.

Về mặt vật lý, chúng ta có thể làm thanh khiết thân thể mình. Đầu tiên chúng ta không bao giờ nên uống nước quả đóng lon hay bia lon. Nhôm vô cùng độc hại với thân thể chúng ta, mà chúng ta lại chẳng biết. Chúng ta toàn dùng những thứ đồ ăn thức uống độc hại ấy. Vậy [đối với] mỗi thân xác này của chúng ta, chúng ta có thể chăm sóc bản thân mình đại loại như thế. Cần tập luyện, và mỗi ngày chúng ta có thể nhìn lại tinh thần mình.

Về cơ bản, loài người chúng ta là ánh sáng và tình yêu, bởi vì đó là một phần của Đấng Tạo Hóa ban cho chúng ta, trong tâm hồn, và rằng chúng ta hiện thân ở đây nhờ thân xác thịt trên Trái đất, nhưng còn tinh thần thì đi, đi mãi, vẫn tiếp tục sống.

Trên Trái đất này, tôi có thể nhớ được cuộc sống của mình, nhiều ngàn năm trước ở trên hành tinh này. Và ngoài ra tôi còn từng sống ở nhiều vùng đất khác nhau trên hành tinh này. Tất cả những ký ức đó trở lại với tôi, và tôi thậm chí còn có thể nói thứ ngôn ngữ mà tôi chưa từng học bao giờ [trong kiếp này].

Nghĩa là, thực sự, tôi đã trải nghiệm rằng thuyết luân hồi là sự thật. Vâng,… bất cứ ai lắng nghe hội thảo này đi nữa, cứ nghĩ như thể là loài người đang an toàn. Chúng ta đã bị chia rẽ sâu sắc từ sau năm 1913, một bên là những người tin vào quan niệm [luân hồi] loại này, còn một bên thì không. Họ đã chia rẽ vô cùng sâu sắc.

Và với bên những người mà không hiểu điều này hoặc không tin điều này, hoặc hoàn toàn ngờ vực sự tồn tại của thế giới tâm linh, thì họ sẽ bị sinh ra ở những cảnh giới khác rất giống như Trái đất này, những nơi đó đầy bạo lực và chiến tranh. Họ sẽ bị sinh ra ở những cảnh giới đó. Vì vậy, giờ đây chúng ta được chuẩn bị sẵn sàng nhờ hội thảo tuyệt diệu này. [Điều đó sẽ đến] rất sớm, rất nhanh.
Cám ơn rất nhiều.

(Theo Tin180)